Lời mở đầu:

Trong chiến tranh điệp báo, các nước Tây phương ngầm đồng ý với nhau về nguyên tắc của những nhà an toàn (safe houses). Đây là những nơi trú ẩn bảo đảm sinh mạng của bất cứ ai, vượt trên mọi ý thức hệ, mọi quan niệm chính trị, cũng như mọi lý tưởng phục vụ của mọi thành viên trong ngành điệp báo.

Ban đầu, những nhà an toàn hiện diện tại vài ba thành phố lớn như Postdam (Đức), Oslo (Na-uy), Lisbon (Bồ-đào-nha), Buenos Aires (Á-căn-đình), Alexandria (Ai-cập), và Montreal (Gia-nã-đại). Vào năm 1938, đại diện các cơ quan điệp báo của các nước lớn gặp nhau tại Bá-linh cố gắng tìm một trật tự tương đối ổn định bằng cách thiết định những nguyên tắc tắc căn bản của địa điểm an toàn. Những nơi trú ẩn (an toàn) này được gọi là Abelard Sanction, lấy tên của một thi sĩ kiêm thần học gia thời Tiền Trung cổ, người Pháp, Pierre Abélard hoặc Peter Abelard theo tiếng Anh. Mảnh đời chạy trốn tìm những chỗ trú ẩn của ông là ngẫu hứng để người ta đồng ý lấy tên ông đặt cho những căn nhà an toàn. Cuộc chạy trốn bắt đầu từ chuyện tình lãng mạn của ông với cô học trò xinh đẹp Helois
e.


n
Ông say mê rồi tìm cách quyến rũ cô và bị người chú (chú hờ nhưng thật ra là chồng) của nàng trả thù bằng cách đột nhập vào nhà riêng và bắt ông đem thiến. Đã bị thiến nhưng ông vẫn sợ gia đình nàng tiếp tục trả thù nên ông tiếp tục lẩn trốn trong một thời gian dài. Chỗ trú ẩn cuối cùng của ông là một ngôi nhà thờ gần Ba-lê, và địa điểm này đã trở thành một nơi ẩn náu an toàn mang tên Paraclete. Bất cứ ai lọt vào khuôn viên của Paraclete đều được bảo vệ an toàn.

Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, các cơ quan điệp báo vẫn tiên đoán chắc chắn sẽ có một cuộc thế chiến thứ III xảy ra và tạo ra sự hỗn loạn về nhân lực, tài nguyên, kể cả rối loạn về mặt tâm sinh lý của các điệp viên. Chính sự hỗn loạn này sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng bất thường ngay trong nội bộ của các cơ quan này. Để tránh những cơn khủng hoảng tâm sinh lý nhất thời, các cơ quan điệp báo đã lập ra những trạm nghỉ ngơi, tạo dịp cho những tay gián điệp gác bỏ mọi suy nghĩ nhức óc hàng ngày. Nhà an toàn bắt đầu từ ý tưởng này. Mỗi cơ quan đều thiết lập riêng những căn nhà an toàn như thế. Về sau, do sự căng thẳng và bất trắc của những điệp vụ ngày càng tăng, họ nghĩ đến những căn nhà “Abelard” bất khả xâm phạm làm nơi trú ẩn dành cho mọi gián điệp bất kể thuộc quốc gia nào. Tại những nơi trú ẩn này, trong những tình huống căng thẳng nhất, bất cứ điệp viên hoặc gián điệp thuộc bất cứ quốc gia nào, chiến đấu cho bất cứ chủ nghĩa hoặc lý tưởng nào, đều được bảo đảm tính mạng trong toàn thời gian trú ngụ. Các cơ quan điệp báo cũng dùng những nơi này để thương lượng, bàn luận, hoặc phối trí lực lượng trong các điệp vụ liên quốc gia. Đó cũng là nơi để các điệp viên nghỉ ngơi, dưỡng sức lấy lại quân bình sau những điệp vụ nguy hiểm. Những cuộc bàn thảo hoặc chuyện trò trong những căn nhà này cũng không được dùng để kết tội bất cứ ai về sau, kể cả tòa án quốc tế.

Hình phạt đối với những ai vi phạm luật lệ an toàn của một trong những nơi trú ẩn này thật nghiêm khắc. Bất cứ ai dùng vũ lực hoặc vũ khí gây thương tích cho bất cứ người nào trong những căn nhà này tức khắc bị xem là kẻ tử thù của mọi cơ quan điệp báo và các tổ chức gián điệp trên toàn thế giới. Tất cả thành viên của các cơ quan hoặc tổ chức này đều có nhiệm vụ truy lùng, săn đuổi và hạ thủ cho bằng được kẻ vi phạm. Giá phải trả là giá chết, không có một sự khoan dung nhân nhượng nào. Từ ngày thành lập Abelard đến nay, chưa hề có luật trừ. Vì Abelard bắt đầu từ một ngôi nhà thờ (nơi Abelard ẩn trốn) nên các ông trùm điệp báo muốn tiếp tục chọn nơi thật yên tịnh làm chỗ trú ẩn an toàn. Họ tin tưởng rằng khi những giá trị tinh thần xuống dốc, tôn giáo sẽ là sơi giây ràng buộc những gì còn lại trong thế giới vật chất ngày nay. Những ông trùm điệp báo của cơ quan phản gián Nga tuy không hề tin tưởng một chút nào về niềm tin tôn giáo – tôn giáo và cộng sản chẳng bao giờ đứng chung với nhau – nhưng nhận thấy cứ để cho bọn Anh và Mỹ bám lấy tôn giáo như một liều thuốc phiện ru ngủ ý thức lại càng có lợi cho sự tuyên truyền của họ. Vì thế, việc thiết lập các nhà an toàn đều được sự chấp thuận của hai khối Tự do và Cộng sản.

Trong thời gian Thế chiến và Chiến tranh lạnh, những căn cứ Abelard được sử dụng một cách có hiệu quả cho cả hai khối nên những địa điểm khác được liên tiếp thiết lập như tại Bangkok, Singapore, Florence, Melbourne, Ferlach, Austria và Santa Fe tại New Mexico. Chỗ trú ẩn tại tiểu bang New Mexico là một trường hợp đặc biệt vì đại diện cơ quan điệp báo Hoa-kỳ trong lần nhóm họp Abelard năm 1938 rất nghi ngờ hiệu năng của những địa điểm trú ẩn. Ông ta còn khẳng định rằng Hoa-kỳ không bao giờ chấp nhận một chỗ trú ẩn như thế ngay trên đất nước này. Thời gian đã chứng minh ông ta sai, sai hoàn toàn. Thế giới ngày càng bất an nên những nơi trú ẩn an toàn lại càng cần thiết hơn bao giờ. Và Hoa-kỳ vẫn có một Abelard.

Từ đó, tên Abelard trở nên phổ biến trong giới gián điệp; nó đồng nghĩa với tên gọi “Nhà An Toàn”. Câu chuyện sau đây xảy ra tại một Abelard, nơi bảo đảm sinh mạng cho bất cứ ai đến ẩn náu, nơi mà sự giết chóc không hề bao giờ xảy ra.

* * *

Santa Fe là thủ đô cổ xưa nhất trong nước Mỹ. Ngay đến cái tên cũng khá kỳ lạ; Santa Fe nghĩa là Niềm Tin Thần Thánh. Saul Grisman cũng tin tưởng chủ nhân của Abelard sẽ chấp nhận chàng. Chiếc xe lầm lũi lao đi trên con đường đất ngoằn nghoèo. Con đường mòn lồi lõm lại thêm lầy lội vì cơn mưa bão bất ngờ đổ ập xuống cách đây hơn tiếng. Nhiều người chưa đến Santa Fe cứ tưởng đó là một vùng đất nắng cháy quanh năm, toàn những sa mạc ngút ngàn bao quanh thành phố. Thật ra, Santa Fe có đủ bốn mùa. Nó đứng ngạo nghễ trên độ cao bảy nghìn bộ trong dãy núi trùng điệp Sangre de Cristo (nghĩa của tên này là Máu của Chúa vì những nhà thám hiểm Tây-ban-nha so sánh ráng chiều buổi hoàng hôn đỏ như máu của Chúa).

Trời vần vũ, gió thổi rạp ngọn cây trong bầu trời xám xịt. Sấm nổ rền từng cơn nghe như đạn pháo kích. Những ánh chớp lóe lên soi rõ ngọn núi đen ngòm đang trừng mắt nhìn Saul như ngầm đe dọa. Lòng chàng nóng như lửa đốt. Saul phải đến Abelard càng sớm càng tốt; một tu viện hiền hòa nằm khép mình về hướng đông bắc của tỉnh lỵ với số dân cư độ chừng năm chục nghìn. Thỉnh thoảng ngó sang bản đồ và bản chỉ dẫn ở ngay ghế bên cạnh, Saul lầm lũi lái xe. Chàng bay vội đến New Mexico và thuê xe đến Abelard. Vừa lái xe, Saul vừa ôn lại một điệp vụ nhiều năm về trước cũng trong thành phố này, cũng trên con đường mòn này. Thời gian đó Santa Fe chưa có một nhà an toàn nên hoạt động của chàng khó khăn hơn. Lần ấy chàng suýt bỏ mạng chỉ vì bất cẩn, một lỗi lầm thật nhỏ không đáng chú ý. May mắn Saul thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Lần này đến Santa Fe, Saul hồi tưởng những hiểm nguy chàng đã vượt qua và tự hứa với lòng mình phải cẩn thận hơn bao giờ.

Vì chuyến đi này liên quan đến sinh mạng của vợ chàng.

Mưa đập vun vút từng vạt vào kiếng chắn gió nhưng Saul cũng kịp nhìn thấy tấm biển mang tên: Camino de la Cruz (đoạn đường thánh giá) dưới ánh đèn xe. Chàng bẻ quặt tay lái sang bên phải, rẽ vào con đường mòn vắng vẻ. Có nhiều lý do giải thích sự hiện diện của một ngôi nhà Abelard an toàn gần Santa Fe. Chung quanh Santa Fe toàn là những địa danh khắc dấu trong lịch sử. Thành phố Los Alamos, nơi thử nghiệm bom nguyên tử đầu tiên, đứng hiên ngang trên dãy núi nằm vắt ngang thung lũng về phía tây. Sandia National Laboratories, một trung tâm quan trọng chuyên nghiên cứu về sự an sinh quốc gia, nằm chiễm chệ ngang triền núi cách Albuquerque độ một giờ lái xe về phía nam. Điệp viên nhị trùng Edward Lee Howard thoát hiểm nhờ đánh lừa được nhân viên FBI ngay trên con đường Corrales rồi lẩn trốn đào thoát sang Nga. Santa Fe gần như bãi chiến trường của những tay gián điệp lừng lẫy. Họ đến nơi này để thi thố tài năng trong một trận chiến một mất một còn. Saul đã đấu trí trong một điệp vụ ngay tại thành phố này và chàng đã may mắn sống sót. Với một địa danh nổi tiếng trong giới gián điệp như thế, một nhà an toàn cần phải có để kịp đáp ứng với tình hình sôi bỏng trong nhiều điệp vụ. Và bây giờ chàng đang sửa soạn xâm nhập vào khu vực an toàn của Abelard.

Dọc theo đường mòn, từng hàng cây thông và bách mọc san sát. Saul chạy thêm khoảng gần nửa cây số thì cụt đường. Trời vẫn mưa tầm tã, hai cánh quạt nước chạy thoăn thoắt trên kiếng chắn gió làm giảm tầm nhìn của Saul nhưng chàng cũng kịp nhìn thấy cái vòm tu viện dưới ánh chớp lóe lên trong màn đêm. Sấm sét nổ long trời làm rung chuyển cả chiếc xe và thêm một ánh chớp chàng nhận ra một dãy nhà dài nằm bên hông tu viện. Giống như kiểu kiến trúc cổ xưa của Santa Fe, dãy nhà dài lợp mái bằng trèn trẹt trông như chiếc hộp hình chữ nhật. Góc cạnh dày tròn trịa màu đất nung của những bức tường trông bệ vệ thách đố với gió sương. Tấm biển chạy hàng chữ, Tu Viện Mặt Trời và Mặt Trăng. Saul, gốc Do-thái, liên tưởng đến tổ tiên chàng cũng một thời thờ đa thần, trong đó có thần Mặt Trời và thần Mặt Trăng. Saul biết hai ngọn núi trong dãy Sangre de Cristo mang cùng tên và người ta lấy hai tên thần phổ thông của loài người đặt cho tu viện. Căn cứ vào tên đa thần, chàng hiểu ngay đây không phải là một tu viện theo truyền thống Công giáo.

Một chiếc xe đậu lạc lõng giữa bãi đậu xe vắng vẻ đập ngay vào mắt chàng. Chiếc xe không mang bảng số như chiếc của chàng. Màu đen của nó trông rờn rợn như ngầm đe dọa môt ai đến gần. Chủ nhân của chiếc xe có lẽ đến tu viện với cùng mục đích như chàng. Saul chợt cảm thấy khó thở, một triệu chứng ngầm báo cho chàng biết tử thần đang rình rập đâu đó chờ vung lưỡi hái sắc lẻm. Nghề điệp báo như chàng đôi khi hoàn toàn phó thác cho giác quan thứ sáu, một giác quan thiên bẩm chứ không tích luỹ qua kinh nghiệm. Nhiều lần chàng thoát chết cũng nhờ vào linh tính báo trước hiểm nguy.

Hít một hơi dài, Saul cho xe đậu ngay bên cạnh chiếc xe đen đủi. Chàng tắt máy, tắt đèn, ngồi lặng yên trong bóng đêm. Saul chậm rãi đếm một… hai… ba và hít đầy dưỡng khí vào buồng phổi. Chàng lại đếm từng ấy lần và thở ra từ từ. Bằng một cử chỉ quyết tâm, Saul chụp chiếc cặp bên cạnh, mở cửa, khoác lên vai, khóa trái cửa xe và băng mình trong màn đêm tiến về cửa tu viện.

Núp mình dưới hàng hiên, Saul khẽ đẩy cánh cửa bằng gỗ dày cộm. Chịu thua, chàng đành bấm chuông và cố ý chường rõ mặt vào chiếc máy ảnh của hệ thống an ninh. Saul nghe tiếng rù rù rồi tiếng khóa cửa bật mạnh. Vừa đẩy cửa bước vào, Saul nhìn thấy ngay phòng đợi rộng rãi lót gạch sáng trưng dưới ánh đèn trần. Cánh cửa tự động đóng sau lưng Saul, lùa vào phòng luồng gió lạnh thổi tung vạt áo khoác và thổi bùng ngọn lửa trong lò sưởi.

Saul xoay người tiến về phía quầy tiếp khách. Một thầy tu mặc áo nâu, loại áo của những kẻ khổ tu có mũ chụp đầu, đang ngồi đàng sau quầy lặng lẽ quan sát chàng. Khuôn mặt ông trông khắc khổ pha chút cương nghị. Tóc cắt ngắn sát da đầu, giọng ông trầm, khô khan đến lạnh người:

- Ông cần gì?

Tóc Saul bết nước, nhỏ từng giọt xuống gáy làm chàng khẽ rùng mình. Mẹ kiếp, giọng thằng cha này nghe như muốn đuổi khách, chàng nghĩ thầm. Saul nhỏ nhẹ, lịch sự:

- Tôi cần chỗ ở dăm ba ngày.

- Ông có lầm không? đây không phải là khách sạn.

- Tôi biết. Nhưng người ta bảo tôi đến gặp ông Abelard.

Đôi mắt thầy tu khẽ chớp, biểu hiện một thoáng bất ngờ, giao động. Saul biết là chàng đã nói đúng mật khẩu. Giọng ông trầm hẳn xuống hơn bao giờ, mang âm hưởng vùng Đông Âu nhưng Saul vẫn không đoán được xuất xứ:

- Để tôi gọi quản lý.

Nhấn ngón tay vào cái nút đỏ trước mặt, giọng thầy tu nghiêm nghị:

- Ông có mang súng?

Saul biết rõ luật lệ nghiêm nhặt của Abelard nên chàng gật đầu:

- Có, thưa ông.

Ông ta khẽ cau mày rồi chúi đầu vào dãy màn hình xếp thẳng hàng trước mặt. Cả khu vực ngoại vi của tu viện được máy hồng ngoại tuyến ghi nhận chiếu rõ từng chi tiết. Khẽ liếc mắt, Saul nhận ra bãi đậu xe ướt át, chiếc xe của chàng và của một người nào đó đến trước chàng đậu song song bên nhau. Xa hơn, vùng đất lầy lội nước mưa. Con đường mòn chạy quanh co đến tận chân đồi. Tất cả đều im lìm, lặng yên một cách đáng sợ.

- Có ai săn đuổi ông không?

- Không! chẳng ai muốn giết tôi cả.

- Ông đã đến đây lần nào chưa?

- Chưa, nhưng ở Melbourne thì có một lần.

- Nếu vậy ông đã biết luật rồi. Súng của ông đâu?

Saul lần tay vào túi áo da và lôi ra chiếc súng ngắn Kecker & Koch nòng 9mm. Chàng khẽ đặt xuống mặt quầy, ổ đạn quay về phía tường, nòng súng hướng ra ngoài. Ông lặng lẽ ghi mẫu súng, số ký hiệu xuống mặt giấy, có lẽ làm biên nhận. Ông ta kéo cái hộc tủ dưới bàn lôi ra một hộp sắt rồi đặt khẩu súng của chàng vào trong. Trước khi đóng hộp, ông hỏi gặng:

- Còn vũ khí nào nữa không?

Saul thú thật:

- À… còn con dao.

Con dao được dấu luồn theo gấu áo da bên trái. Lưỡi dài khoảng nửa tấc, mỏng như lá liễu nhưng độ bén và sự dẻo dai của nó thì không chê vào đâu được. Khi đụng chuyện nó rất tiện dụng. Cỡ chiếc còng số tám, chàng có thể dùng nó cưa đứt chỉ trong vài phút. Saul kéo nó ra khỏi gấu áo và đặt lên quầy. Vị thầy tu lại hý hoáy viết lên mảnh giấy lúc nãy. Sau cùng, ông ta lại hỏi gặng chàng lần nữa:

- Hết chưa?

- Hết.

Chàng biết chắc không thể dấu bất cứ vũ khí gì. Saul biết hắn chỉ hỏi cho có lệ chứ bộ máy dò vũ khí đặt ngay cửa đã chụp nguyên thân hình chàng ngay khi bước qua ngạch cửa, một cây kim cũng không thoát nữa là con dao bằng cỡ hơn ngón tay. Bỗng một giọng nói vang lên trong bóng tối:

- Tôi là Chen.

Saul quay lại và nhận ra một người đàn ông khác cũng trong chiếc áo nâu sậm đang tiến về phía chàng. Chẳng biết ông ta vừa mới tới hoặc đứng trong một góc tối nào đó từ nãy giờ. Người đàn ông độ chừng bốn mươi, nét mặt Á-đông mà chàng chắc hẳn phải là người Tàu, trông mập mạp, bụng phệ, mặt tròn vành vạnh, đầu trơn bóng không một cọng tóc. Nhìn ông, Saul nghĩ ngay đến Phật Di-lặc, ông Phật cười chuyên mang niềm vui và sự may mắn đến cho nhân loại.

- Tôi là người chăm sóc Abelard này. Quý danh của ông?

Saul chìa tay, khẽ cúi đầu:

- Saul Grisman, thưa ông.

- Không, bí danh của ông kia!

- Romolus.

Ông Chen đứng ngẫm nghĩ một lúc. Bí danh của Saul cơ hồ dẫn ông về một quá khứ xa xăm nào đó. Ông nhíu mày suy nghĩ rồi ra dấu chàng bước theo ông qua hành lang vào một căn phòng nhỏ. Ông Chen kéo ghế ngồi trước máy tính, gõ liên tiếp lên bàn phím, truy cập trong sổ bộ bí danh của chàng. Chen chăm chú nhìn vào màn hình rồi lại nhìn lên quan sát khuôn mặt của Saul.

- Romolus là tên của một trong hai anh em sinh đôi. Thế ông có anh em sinh đôi nào không?

Saul tin chắc ông Chen đã biết chuyện quá khứ của chàng. Câu hỏi chỉ để kiểm chứng lại sự thật, đồng thời đánh giá mức độ thành thật của chàng.

- Trước đây tôi có một người em nhưng không phải sinh đôi. Tên nó là Christ…

Chen buột miệng:

- Christ Kilmoonie, dân Ái-nhĩ-lan phải không?

Không nghe Saul nói gì, ông tiếp tục:

- Bí danh là Remus. Hai anh em ông xuất thân từ một cô nhi viện ở Philadelphia. Để tôi nhớ xem… đúng rồi… rồi cả hai được nhận vào trường Benjamin Franklin, một trường Thiếu sinh quân dành cho nam sinh.

Saul gật đầu. Chàng thấy cần phải nói rõ một phần quá khứ. Ông Chen không rảnh rỗi hỏi chuyện chàng khơi khơi. Saul biết hậu ý của ông là kiểm chứng lại những gì ông biết về chàng.

- Đúng, chúng tôi luôn luôn mặc đồng phục, tập diễn binh với súng giả. Các lớp giảng dạy môn lịch sử, lượng giác, văn chương, v…v.. đều liên quan đến quân đội. Phim ảnh hoặc trò chơi đều theo mô thức chiến tranh.

- Châm ngôn của trường Thiếu sinh quân đó ông còn nhớ chứ?

Lại một cách điều tra của ông Chen.

- Dạy chiến tranh và chính trị để sau này chúng đủ sức theo học y khoa và toán rồi con cháu của chúng sẽ có cơ hội theo đuổi hội họa, thơ phú, âm nhạc và kiến trúc.

- Hình như châm ngôn này không phải của Benjamin Franklin.

- Ông nói đung, của John Adams.

- Còn Edward Eliot huấn luyện ông, phải không?

Cái tên Eliot làm Saul nhức nhối. Mỗi lần nghe đến cái tên của thằng khốn nạn đó chàng không kềm giữ được xúc động. Eliot làm giám đốc điều hành một cơ phận của CIA chuyên về phản gián. Chức vụ này được giữ bí mật mãi đến sau này chàng mới hay chuyện.

- Hắn đến trường Thiếu sinh quân lúc chúng tôi mới 5 tuổi. Đứa nào cũng mến tính tình hòa nhã, nét mặt vui tươi của hắn. Dần dần hắn chiếm hết tình cảm của bầy trẻ, kẻ cả hai anh em tôi. Chúng tôi gọi hắn bằng bố lúc nào không hay. Hắn lại được phép dẫn hai anh em chúng tôi đi dạo phố vào cuối tuần, nào là xem những trận đấu dã cầu, nào là ăn kem, đôi khi hắn đem về nhà ăn thịt nướng ở sân sau vào mùa hè. Nói chung, từ tuổi thơ cho đến lúc trưởng thành, chúng tôi hiến cả linh hồn lẫn thể xác cho hắn. Cả hai chúng tôi lao đầu vào những điệp vụ do hắn chỉ huy. Tất cả với tâm tình của người con đối với cha của mình.

- Vậy mà ông lại giết Eliot.

Saul cúi đầu yên lặng. Chàng hồi tưởng lại giây phút đẫm máu khi chính chàng đẩy nguyên tràng đạn tiểu liên vào ngực kẻ không tim.

- Đúng thế! Thật không ngờ thằng khốn nạn chiêu dụ cả một đội quân gồm những đứa mồ côi cha mẹ như tôi. Hắn nói hay quá, đứa nào cũng nghĩ đây là cách duy nhất để đền ơn hắn. Từng đứa một, chúng tôi lao đầu vào những điệp vụ nguy hiểm cốt để trả ơn. Rồi tôi khám phá ra những âm mưu bẩn thỉu đàng sau những điệp vụ đẫm máu đó. Hắn sử dụng chúng tôi hoàn toàn như những con chốt để phục vụ cho mục đích cá nhân. Trong chuyến công tác cuối cùng, Christ chết thảm. Nhìn thằng em tôi chết oan ức, tôi thấy không còn gì phải luyến tiếc cả. Giữa hắn và tôi, phải có một người chết. Tôi chết cũng chẳng sao, tứ cố vô thân, không một ai họ hàng thân thích. Qua bên kia thế giới gặp lại thằng em lại càng tốt. Vậy mà trời bắt tội tôi vẫn phải sống.

Cặp mắt ông Chen ráo hoảnh, không biểu lộ một ngạc nhiên nào. Sắc diện vẫn bình thản, ông nhìn Saul nghiêm nghị:

- Ông biết khi giết người cha nuôi, ông đã vi phạm luật Abelard không?

- Tôi không vi phạm một điều luật nào của Abelard. Tôi khẳng định điều đó. Eliot chết ngoài khuôn viên của Abelard. Hắn và tôi có to tiếng ngay trong phạm vi của nhà an toàn nhưng tuyệt nhiên không sử dụng vũ khí để thanh toán nhau…

Chen trừng mắt nhìn Saul, chờ đợi.

- …đúng ra, họ đuổi chúng tôi khỏi Abelard nhưng lại cho hắn rời trước 24 tiếng đồng hồ. Nghĩa là hắn có nguyên một ngày để lẩn trốn. Xui cho hắn, tôi đoán trước lộ trình đào tẩu nên chỉ hai ngày sau tôi phục kích bắn nát ngực hắn. Ngoài ra, tôi có một yêu cầu nhỏ, xin ông đừng gọi hắn là cha nuôi của tôi nữa.

Không màng gì đến lời yêu cầu của Saul, ông Chen gõ nhịp mấy ngón tay sần sùi to như trái chuối cau xuống mặt bàn, tư lự:

- Hừm… May cho ông, mấy tay trùm điệp báo cho rằng luật lệ Abelard tuy có bị phá nhưng không phải vi phạm. Vì thế ông mới được tha tội chết. Hơn nữa, Eliot phạm tội nhị trùng nên chẳng ông trùm nào nương tay. Ông biết rồi, nghề này ghét nhất là làm gián điệp tay đôi. Ăn cây nào, rào cây ấy là hay nhất. Thứ ăn cháo đái bát ai cũng ghét. Tôi còn nhớ là ông bị phạt phải lưu vong vì phá lệ của Abelard. Ông sống ở Do-thái giúp Mossad (cơ quan gián điệp nổi tiếng của Do-thái) từ ngày đó, phải không? Thế lý do nào mà ông quay lại đất Mỹ này? Thú thật với ông, với quá khứ đẫm máu của ông, tôi không có một chút hứng thú nào khi ông ở lại Abelard này.

- Tôi muốn tìm một người đàn bà.

Chen trợn mắt:

- Ăn nói ý tứ một chút nghe ông. Chỗ này dù sao vẫn là nơi thanh tịnh, làm gì có chứa đàn bà mà ông kiếm.

- Xin lỗi ông, tôi muốn kiếm vợ tôi.

Ông Chen lại nhìn xuống màn hình, gõ lóc cóc một lúc rồi ngửng lên:

- Erika Bernstein, đúng không? một điệp viên ưu tú của Mossad.

- Chiếc xe đậu ngoài bãi có phải của vợ tôi không?

Chen lớn tiếng quả quyết:

- Không… ông nói là ông đang tìm kiếm vợ ông?

- Cả ba tuần nay tôi mất dấu nàng. Nếu chiếc xe đó không phải của vợ tôi vậy thì phải của thằng Yusuf Habib?

Một tiếng sấm chợt nổ ầm bên tai nhưng Saul vẫn nghe rõ từng tiếng của ông Chen:

- Đúng, ông ta đang là khách của Abelard.

- Vậy thì nguy hiểm quá. Tôi tin chắc sớm muộn gì nhà tôi cũng tìm ra chỗ này. Nếu Erika gặp mặt thằng Yusuf ở đây thì may ra trời mới cản được nàng. Ông Chen, tôi đến đây để ngăn chặn chuyện đổ máu có thể xảy ra.

Chen không kịp hỏi thêm một câu nào vì tiếng chuông báo hiệu có người đang đứng trước cửa. Khẽ cau mày, Chen bấm vào nút của màn hình. Tim Saul muốn nhảy ra khỏi lồng ngực vì khuôn mặt của Erika, vợ chàng, đang hiện rõ trên màn ảnh. Nguyên thân hình của Erika xuất hiện trên một màn hình khác khi nàng di chuyển vào phòng đợi. Erika mặc áo trắng, quần din, giày chạy bộ như chàng. Nàng ăn mặc bình thường nhưng đủ phô trương một thân hình bốc lửa của người đàn bà ngoài ba mươi, thường xuyên bỏ nhiều giờ trong phòng thể dục. Mái tóc cột đuôi ngựa đong đưa theo mỗi bước đi, nàng khoác thêm chiếc áo mưa ngắn cũn cỡn, nước mưa đang nhỏ xuống từng giọt. Đúng như chàng đoán, thế nào nàng cũng tìm ra chỗ ẩn trốn của Yusuf.

Saul chạy vội ra khỏi phòng, đâm bổ về phía chỗ đợi. Ông Chen lúp xúp chạy theo sau. Erika đang đứng tần ngần thì chợt nghe tiếng chân người chạy sầm sập về phía nàng. Nhanh như một con mèo, Erika xoay mình đứng thủ thế chờ diễn biến và nét mặt nàng đanh lại khi thấy Saul hiện ra trong tầm mắt.

Erika chỉ ngón tay về phía chàng, giọng giận dữ:

- Em đã nói với anh đừng đuổi theo em nữa cơ mà.

- Anh có theo dấu em đâu.

- Không theo dấu mà lại có mặt nơi đây?

- Anh không đuổi theo em, anh theo dấu thằng Habib.

Không đợi nàng trả lời, Saul nói ngay với ông Chen đang đứng kế bên:

- Vợ chồng tôi cần một phòng riêng để bàn chuyện.

Chen chỉ tay về cuối dãy hành lang bên trái, đối diện với phòng làm việc của ông:

- Phía đó, phòng cuối cùng.

Erika đứng trợn mắt nhìn chồng, hai hàm răng nghiến chặt. Nàng liếc xéo Saul rồi vùng vằng nện gót chân xuống nền gạch bóng loáng bước về phía dãy hành lang ông Chen vừa chỉ. Saul lầm lũi bước theo sau, miệng ngậm tăm. Bước vào phòng, Erika ngồi phịch xuống ghế, vẻ chán nản. Saul kéo ghế ngồi đối diện, chàng cất tiếng:

- Em có sao không?

Giong dấm dẳn, Erika không thèm nhìn mặt chồng:

- Sao là sao?

- Ý anh hỏi là em có bị thương không?

Giọng Erika trở nên dịu đi khi thấy chàng hỏi han ân cần:

- Không… em vẫn bình thường.

Saul nhỏ nhẹ:

- Chẳng phải là con của riêng em, anh cũng đau khổ vậy.

Đôi mắt Erika trở nên vô hồn, gần như đôi mắt của người điên khi nghe chồng nói đến đứa con trai. Hai tay nàng ôm lấy đầu, áp chặt hai bên thái dương như cố nén những ý nghĩ đâm buốt óc. Tất cả diễn tả một tâm trạng đau khổ đến cùng cực, tâm trạng của người mẹ mất con. Đau đớn hơn, đứa con chết thảm, chết không toàn thây. Thông cảm cho nỗi đau đớn của vợ, Saul khẽ chồm người, vuốt ve cánh tay nàng:

- Anh thù ghét thằng Habib khác gì em. Hễ thấy mặt nó thì anh chỉ muốn nhảy chồm đến siết cổ…

- Dẹp anh đi, chuyện đó một mình em làm được rồi, ai khiến anh…

Saul tha thiết hơn bao giờ:

- Erika, nghe anh đây. Chúng ta đã mất con, anh không thể mất em. Anh đang chịu đựng nỗi đau mất con, anh không thể nhận thêm nỗi đau mất vợ. Em nghĩ xem, đời anh không có em thì còn gì đáng sống nữa. Sức anh chỉ có giới hạn, em hiểu cho anh?

Đôi mắt Erika ướt đẫm. Siết chặt lấy bàn tay chồng, nàng giữ chặt trong tay cơ hồ bám lấy một điểm tựa để giúp nàng vượt qua cơn đau khổ. Nàng nức nở:

- Em hiểu… em hiểu.

- Nếu em có giết được thằng Habib trong Abelard này, người ta cũng xử tử em ngay. Luật lệ nhà an toàn em biết rồi, có ai sống thêm được một ngày nếu vi phạm kỷ luật sắt của Abelard.

Erika giật bàn tay ra khỏi bàn tay chồng khi nghe đến tên Habib:

- Em cũng không sống thêm một ngày nếu không giết được thằng Habib. Thế nó có ở đây không?

Saul ngần ngừ một chút rồi gật đầu nhẹ.

- Vậy thì em phải hành động gấp.

Saul giữ chặt lấy cánh tay của vợ, giọng nghiêm nghị:

- Erika, nghe anh đây. Chúng ta phải có kế hoạch, đừng làm xằng mà không suy tính. Chung quanh đây toàn đồi núi, mình rời khỏi Abelard rồi phục kích nó ngoài chu vi của Abelard. Chỉ cần nó bước ra ngoài, anh sẽ dùng súng nhắm bắn nó chết tươi. Em biết tài bắn của anh mà, bảo đảm trong vòng bán kính năm trăm thước, đến con kiến cũng không thoát được ống nhắm của anh.

- Em biết… mắt đền mắt, răng đền răng. Thằng đó không thể sống thêm một ngày nào nữa.

- Vậy thì chúng ta rời khỏi đây càng sớm càng tốt.

Erika níu lấy cánh tay chồng khi chàng dợm đứng dậy:

- Nhưng chuyện không dễ như anh tưởng. Anh nghe em đây. Ở Cairo, em suýt giết được hắn. Viên đạn xuyên thủng cánh tay và hắn trốn thoát. Trong hai tuần, hắn lẩn trốn từ Abelard này sang Abelard khác với một lộ trình thật rắc rối. Vậy mà cách đây sáu ngày, đường tẩu thoát của hắn bỗng trở nên dễ theo dõi, những dấu vết rơi rớt trên đường giúp em đoán biết chính xác lộ trình của hắn. Thoạt tiên em cho rằng hắn đã quá mệt mỏi nên mới sơ hở. Mãi đến khi hắn đào thoát từ Mễ sang đến Abelard này, em chợt hiểu âm mưu của hắn. Ở những miền Trung đông, hắn dễ lẩn trốn trong đám đông nhưng qua đến Santa Fe này, có mấy thằng ăn mặc theo kiểu Trung đông như hắn. Người ta sẽ nhận diện hắn dễ dàng. Em tự hỏi tại sao hắn lại liều mình đến Santa Fe, nơi mà hắn khó có thể dấu kín tung tích. Và em tìm ra ngay đáp số của bài toán, hắn đang giương bẫy chờ em. Em tin chắc người của hắn đang vây hãm Abelard, chỉ đợi em ló mặt ra là nổ, nổ đẹp. Anh thấy không, trước khi anh có ý định phục kích hắn, hắn đã phục kích mình. Có điều hắn không ngờ là em sẵn sàng phá luật Abelard. Em biết em sẽ chết khi phá luật nhưng hắn phải chết trước em. Không ngờ đến phút cuối anh lại dẫn xác đến. Anh thấy cái dại của anh chưa? Một mình em đã khó thoát thân, bây giờ lại dính thêm mạng của anh.

Saul trìu mến nhìn vợ:

- Anh yêu em hơn bao giờ hết, Erika.

Erika nhìn xuống đôi bàn tay trầy sướt qua cuộc rượt đuổi từ hơn tháng nay. Nàng âu yếm:

- Cả đời em chỉ yêu con và anh.

Một giọng nói chợt vang lên ngay ngưỡng cửa:

- Cả hai ông bà phải rời khỏi nơi đây ngay lập tức.

Ông Chen đứng sừng sững, chắp hai bàn tay phía sau lưng. Với kinh nghiệm trận mạc, Saul biết chắc chắn ông đang thủ khẩu súng đàng sau. Anh thầy tu lúc nãy ở phòng đợi lại xuất hiện, cũng đôi bàn tay dấu sau lưng. Vậy là căn phòng này bị đặt máy quay lén, thu cả tiếng nói lẫn hình ảnh. Mẩu đối thoại của vợ chồng chàng ông Chen đã nghe hết. Saul nghiệm nghị nhìn ông:

- Ông nghe vợ tôi nói không? Bọn nó đang phục kích chúng tôi bên ngoài.

Tư thế đứng không thay đổi, Chen lắc đầu:

- Đó cũng chỉ là giả thuyết thôi. Làm sao kiểm chứng được. Cũng có thể vợ ông bày chuyện để ông bà có lý do ở lại.

- Habib là một nhân vật quan trọng của tổ chức Hamas.

- Tôi không cần biết ông ta là ai và làm cho tổ chức nào. Tôi chỉ bảo vệ luật của Abelard. Mọi người phải được bảo vệ tính mạng trong phạm vi của Abelard.

- Hắn chuyên đi dụ những kẻ ôm bom cảm tử. Hắn còn cầm đầu cả một trung tâm huấn luyện nữa. Tiên sư cha mấy thằng ngu ngốc quá sức, làm sao mà tin cứ ôm bom nổ giết dân Do-thái là bay thẳng lên thiên đàng với 72 trinh nữ đang nằm thưỡn chờ rồi tha hồ mà hưởng lạc. Mẹ kiếp, trinh nữ đâu sẵn để hầu hạ mấy thằng xuẩn ngốc vậy chứ? Thế mà vẫn có kẻ tin. Hắn khéo mồm nên khối thằng sẵn sàng theo hắn tử đạo.

- Tôi biết mấy người ôm bom đều bị tẩy não nhưng ở Abelard tính mạng phải tuyệt đối bất khả xâm. Không có luật trừ, bà hiểu không?

Saul xen vào, giọng giận dữ:

- Bất khả xâm? Thế luật bất khả xâm của quốc gia chúng tôi thì sao? Bốn tuần trước, một thằng ngu, người của Habib, ôm bom nổ tung một siêu thị Do-thái. Nhà chúng tôi ở sát bên nên đứa con chúng tôi chết mất xác.

Nhớ đến cái chết của đứa con trai, Erika nghiến răng:

- Xác con tôi nát bấy… chỉ còn cái đầu để nhận diện. Ông có thể tưởng tượng được không?

¬- Tôi thành tâm chia buồn nhưng tôi không cho phép ông bà vi phạm luật lệ an toàn của Abelard cho dù cái chết của con bà thật thương tâm. Muốn giết, muốn đâm chém nhau thế nào cũng được nhưng phải ngoài chu vi của Abelard.

Erika khẩn khoản:

- Tôi đồng ý nhưng ông phải ra lệnh cho Habib giải tán đám phục kích ở phía ngoài. Tính mạng của tôi ra sao cũng được nhưng tôi muốn tính mạng của chồng tôi phải tuyệt đối được bảo đảm.

- Tôi sẽ nói chuyện với ông Habib.

- Tôi đây, ông cần nói chuyện gì.

Một bóng người nhô ra từ vùng hành lang tối. Vừa thấy mặt người đàn ông, máu trong người Saul đã sôi lên sùng sục. Tất cả bắp thịt trong người chàng hầu như bị tê liệt trong khoảnh khắc. Habib trạc bốn mươi, dáng người đẫy đà, bệ vệ với lớp tóc đen cứng, mọc tua tủa trông như hầm chông. Khuôn mặt hắn trông khá sáng sủa, nếu không nói là thông minh. Habib mặc chiếc áo truyền thống Hồi giáo, khoác thêm chiếc áo da dày cộm. Cánh tay trái treo lủng lẳng bằng một sợi dây quàng qua cổ.

Hắn khôn ngoan đứng sát ngay phía sau ông Chen, cất giọng:

- Tôi cũng xin chia buồn với ông bà qua cái chết của đứa con. Ông bà cũng biết chiến tranh luôn tàn nhẫn. Mỗi lần bom nổ là mỗi lần tôi ân hận khi thấy những đứa trẻ chết lây vì hận thù của người lớn. Chúng vô tội, chỉ có cha ông chúng mới cướp đất của chúng tôi thôi. Chúng cũng không đặt ra luật lệ để đàn áp dân tộc chúng tôi.

Erika bĩu môi khinh bỉ:

- Luận điệu của ông chỉ lừa được con nít.

Không màng đến thái độ của Erika, Habib kể lể:

- Lúc tôi còn nhỏ, gia đình tôi sinh sống ở Jerusalem. Đám lính Do-thái tuần tiễu phía trên tường thành bao bọc dân Palestine, cứ đứng đái xuống vườn rau của chúng tôi thoải mái. Họ khinh chúng tôi hơn cả súc vật. Cả cái đám chính trị gia đặt ra luật lệ cũng chẳng hơn gì mấy tên lính chó chết đó.

Erika gằn giọng:

- Tôi chẳng bao giờ hạ nhục một người nào.

- Nếu người Do-thái trả lại đất cho chúng tôi thì làm gì có chuyện nổ bom cảm tử. Mấy đứa trẻ cũng không phải chết oan ức nữa.

Erika giận dữ chồm người về phía Habib:

- Tôi không cần biết mạng mấy đứa trẻ kia…

Thấy thái độ khiêu khích của nàng, ông Chen vung tay tiến lên một bước, lớn giọng:

- Đứng lại…

Erika dừng bước.

- Con của tôi không đứng đái lên vườn rau của bọn ông. Vậy mà nó vẫn chết không toàn thây. Ông giải thích ra sao đây?

Habib chường người ra phía trước:

- Ông bà muốn hy sinh tính mạng để trả thù hay sao?

Erika phất tay, lớn giọng:

- Không. Chồng tôi không dính dáng đến chuyện này. Ông phải ra lệnh cho bọn đàn em bên ngoài buông súng hết.

- Nhưng nếu bà ra khỏi đây an toàn, bà cũng phục kích tôi vậy. Kế hoạch của ông bà tôi đã nghe hết.

- Tôi cho ông thời gian như trước đây Saul đã cho Eliot. Nghĩa là ông có 24 tiếng đồng hồ trước khi tôi rời khỏi nơi đây. Ông ra đi ngay bây giờ, 24 tiếng sau, tôi sẽ đuổi theo ông.

Habib cười ngạo mạn:

- Cái gì? Bà có nằm mơ không? Bà đang nằm trong thế bị động, tôi đang ở thế thượng phong, đàn em của tôi đang phục kích chung quanh khu vực này, thế tại sao tôi phải tuân theo đề nghị của bà?

- Thượng phong... ông có hiểu thế nào là thượng phong không?

Vừa nói, Erika vừa kéo zipper chiếc áo mưa xuống, mở rộng hai vạt áo.

- Nhìn cho kỹ, đây mới là thượng phong.

Người Habib run lên. Hắn thở hắt ra một hơi dài. Cặp mắt sắc như dao của ông Chen trợn cứng. Saul tiến lên một bước và chàng nhìn thấy rõ những cây thuốc nổ quấn chặt quanh hông của vợ. Chàng run bắn người khi nhìn thấy Erika cầm trong tay ngòi nổ, ngón tay cái đã bấm sâu xuống cái nút màu đỏ. Erika chỉ cần nhả ngón tay ra thì không những thân hình nàng nát như cám, mạng của chàng, mạng thằng Habib và mạng hai ông thầy tu cũng nát như tương. Từ lúc mở rộng hai vạt áo cho mọi người thấy những cây thuốc nổ cho đến khi thấy nàng nắm ngòi nổ trong tay, thời gian chỉ hơn một giây. Thoáng một cái, ngón tay cái của nàng đã bấm xuống nút tử thần. Động tác thuần thục của Erika chứng tỏ nàng đã chuẩn bị và tập dượt thao tác nhiều lần.

Nàng dõng dạc:

- Nếu tôi bị bắn, ngón tay tôi sẽ nhả ngòi nổ và tất cả chúng ta đều lên… thiên đàng, chỉ khác là tôi không cần một con trinh nữ nào cả.

Giọng Habib run thấy rõ:

- Bà suy nghĩ lại… chồng bà cũng không thoát chết…

- Đúng, chẳng thà chồng tôi chết trong này còn hơn để mấy thằng đàn em của ông thanh toán ngoài kia. Ông tưởng chỉ có bọn ông là biết dùng bom cảm tử thôi hả. Nếu cần, ai cũng có thể làm cái chuyện chó chết đó, ông biết không?

- Bà điên rồi…

- Tôi điên cũng đến như cái đám tử đạo của ông thôi. Nói thật với ông, tôi chỉ muốn nổ tung cái Abelard này, ngay bây giờ, không cần phải đề nghị cái quái gì hết, ông hiểu chứ? Chỉ vì Saul, chồng tôi, tôi mới dành cho ông cơ hội tẩu thoát trước 24 tiếng. Một khi người ta đã muốn chết rồi thì không có gì phải luyến tiếc cả. Ông cút ngay khỏi mắt tôi, đừng để tôi đổi ý. Nhớ bảo mấy thằng chó chết của ông cũng cút ngay đi. Với tinh thần thượng võ, tôi bảo đảm tính mạng của ông an toàn khi bước ra khỏi nơi này. Nhưng tôi cũng báo cho ông biết, nội trong 24 tiếng, tôi sẽ bắt kịp ông, và lúc đó tôi sẽ giết chết ông như giết một con kiến.

Đầu óc Habib làm việc dữ dội. Có gì bảo đảm qua lời nói của con đàn bà này. Mình vừa xoay lưng, nó rút súng nã một viên thì cũng rồi đời, chẳng thà chết chung còn hơn mắc mưu. Hắn xoay sang ông Chen:

- Nếu con mẹ điên này rời khỏi Abelard trước 24 tiếng…

Chen ngắt lời, giọng dứt khoát:

- Chuyện đó không bao giờ xảy ra. Nhiệm vụ của tôi là cầm chân bà ta trong 24 tiếng.

Habib hỏi gặng:

- Ông giúp tôi rồi ai giúp ông. Làm sao bà ta hóa giải mạch bom?

- Ông đừng lo, tôi sẽ có cách. Cái mạng tôi không là gì. Tôi chỉ muốn bảo vệ Abelard được an toàn.

Erika tỏ vẻ sốt ruột:

- Ngón tay tôi mỏi lắm rồi. Các ông bàn định nhanh lên. Tôi nhả nó ra thì không một ai sống sót.

Habib gật đầu. Erika và Saul theo chân hắn đến tận phòng. Erika muốn biết chắc hắn rời khỏi Abelard theo đúng đề nghị của nàng. Ông Chen cũng muốn Habib giữ đúng lời hứa nên rảo bước theo sau ba người. Habib bỏ hết vật dụng vào chiếc va-li nhỏ. Dáng đi mệt mỏi vì cánh tay bị thương, hắn xách vali trở lại phòng đợi. Dùng có một tay nên cử chỉ của hắn không được nhan nhẹn như thường ngày. Habib dùng phôn đặt trên quầy quay số, bật nút phóng thanh trên phôn cho mọi người cùng nghe.

Mọi người nín thở khi nghe tiếng người đàn ông bên kia đầu dây:

- Hello.

Ngoài kia, mưa vẫn rơi nặng hạt. Sấm chớp vẫn giật từng cơn như báo hiệu tử thần vẫn còn lảng vảng đâu đây. Habib ra lệnh:

- Tao sửa soạn rồi khỏi Abelard. Kế hoạch phải hoãn lại.

- Tôi cần mật mã hủy bỏ kế hoạch phục kích.

- “Santa Fe là thành phố khác biệt.”

- OK. Chúng tôi sẽ rút trong vòng 5 phút.

- Rút về điểm hẹn và đừng đi đâu. Tao cần bọn mày sau 24 tiếng đồng hồ.

Tắt phôn, Habib quay sang Erika:

- Lần sau bà đừng hòng đến gần tôi như lần này. Tôi cũng báo cho bà biết là chẳng bao giờ có lần sau như bà nghĩ đâu. Sau 24 tiếng là giờ báo tử của bà đó.

Không thèm để ý đến lời hăm dọa của Habib, Erika hất đầu nhìn chiếc đồng hồ treo tường đàng sau Habib:

- Bây giờ là 10 giờ 5 phút. Ông không còn thì giờ nhiều. Đêm mai, cũng vào giờ này tôi sẽ bắt đầu một cuộc săn đuổi mới.

Habib đẩy cửa. Một luồng gió mạnh thổi tạt vào mang theo cái ướt át của trời đêm. Lôi trong túi ra cái máy hoạt hóa từ xa (remote control), hắn bấm nút mở cửa xe rồi bấm thêm một nút nữa cho máy nổ. Cúi xuống xách vali, Habib băng mình vào màn đêm, lầm lũi bước về phía bãi đậu xe. Mọi người dõi mắt theo nhất cử nhất động của hắn.

Người hắn oằn đi trong cơn gió kéo theo những hạt mưa nặng hạt quật rát mặt. Ánh chớp lóe lên và Saul thấy Habib bước đi như chạy. Ngọn đèn vàng vọt ở bãi đậu xe đủ sáng để mọi người theo dõi Habib trong tầm mắt. Hắn mở cửa xe, ném vội chiếc va-li sang ghế bên cạnh, nổ máy. Hai ánh đèn pha rực lên trong màn đêm như hai ngọn lửa, chiếu luồng sáng soi rõ đám cây thông trước mặt.

Habib vừa ngồi vào xe đề máy thì ông Chen vội đóng cánh cửa lớn, lùa hết mọi người vào trong, cách biệt với bầu trời mưa gió tầm tã. Phòng đợi chợt se lạnh, thoáng ướt của chút nước mưa hiu hắt. Giọng Erika vội vã:

- Bãi đậu xe có kể là khuôn viên của Abelard không?

Chen dấm dẳn:

- Chuyện đó không quan trọng. Mìn trong người bà mới quan trọng. Bây giờ làm sao để giải mạch nổ?

- Đơn giản lắm…

Vừa nói xong, Erika nhả ngón tay khỏi ngòi nổ. Nàng hành động quá nhanh, không ai kịp nói một tiếng. Ông Chen đứng sững, người cứng ngắc như bị điểm vào tử huyệt. Saul chỉ kịp há miệng, nửa tiếng chưa thoát ra khỏi cổ họng thì ngón tay Erika đã bung ra khỏi ngòi nổ. Phòng đợi rộng rãi đủ chứa đến trăm người vậy mà ai đều cảm thấy ngột ngạt như thiếu dưỡng khí. Mùi tử khí nồng nặc bủa chụp lên đầu mọi người. Và trong khoảnh khắc đó, một tiếng nổ long trời lở đất nổi lên…

Đúng là tiếng mìn nổ nhưng không phải từ những cây thuốc nổ quấn quanh người Erika. Nó vọng đến từ bên ngoài, nghe rất gần. Tiếng nổ lớn đến nỗi át luôn mọi tiếng động của mưa gió bão bùng, ngay cả sấm sét cũng đột nhiên ngưng bặt. Sức ép của thuốc nổ phải mạnh lắm vì căn nhà rung chuyển như trong cơn động đất. Mặt kiếng cửa sổ đối diện với bãi đậu xe nứt rạn, vỡ rơi loảng xoảng xuống nền gạch. Sức nổ khủng khiếp tạo ra một áp lực lan nhanh trong không khí và đè nặng lên ngực làm mọi người khó thở.

Nét mặt Saul hiện rõ vẻ thỏa mãn khi chàng tưởng tượng đến hai chiếc xe của vợ chồng chàng kẹp cứng hai bên xe của Habib nổ tan tành thành từng mảnh nhỏ. Hai ký mìn dấu trong mỗi chiếc xe của vợ chồng chàng mà nổ thì đến xe tăng cũng ngã nữa là xe của Habib. Ông Chen tỉnh người. Ông chạy vội về phía trước, đẩy tung cánh cửa nhìn ra phía bãi đậu xe. Qua màn nước mưa nặng hạt, ông thấy một cột khói dày đặc bốc lên cao. Dù trời giông bão, ông vẫn ngửi được mùi sắt nóng bị đốt cháy, cả mùi xác người bị thiêu sống. Ngọn lửa cháy bùng át nước mưa, sáng rực cả màn đêm. Hai hông chiếc xe của Habib thụt hẳn vào trong; ngay sau tay lái, một xác người đang cháy rực như ngọn đuốc.

Khuôn mặt đanh cứng như thép, ông Chen quay người, giận dữ:

- Tại sao bà giết người?

- Nó không đáng sống… cho nó về địa ngục với mấy thằng cảm tử.

Ngoài kia, vang vọng tiếng súng nổ dòn từng tràng. Chắc chắn có chạm súng đâu đó trong vùng đồi núi. Saul cắt nghĩa:

- Người của chúng tôi. Ông đừng lo. Họ chỉ thanh toán đám đàn em của Habib thôi. Abelard vẫn an toàn…

Erika thêm vào:

- Ông cũng đừng lo cảnh sát tìm đến chỗ này điều tra về vụ nổ…

Bồi theo câu nói của nàng là một tiếng nổ nữa từ xa.

- …khi bạn chúng tôi nghe tiếng nổ, nhiệm vụ của họ là cũng cho nổ ngay một chiếc xe đầy mìn ở ngay đầu đường mòn dẫn đến tu viện này. Họ còn đổ xăng cho nó bốc cháy đủ lâu để gây sự chú ý của cảnh sát. Ông tin tôi đi, sở cứu hỏa và cảnh sát đều nghĩ hai tiếng nổ phát ra từ một chỗ, chẳng ai nghĩ đến việc vào tu viện điều tra thêm.

Ngọn lửa ở bãi đậu xe đã tắt ngấm vì cơn mưa đổ xuống như trút. Saul hứng khởi:

- Chúng tôi không ngờ là có mưa bão. Thế mà lại hay, nhờ mưa mà kế hoạch chúng tôi hoàn thành tốt hơn dự tính.

Tiếng súng vẫn nổ đì đùng đâu đó nhưng mức độ giao tranh đã giảm đi nhiều.

- Dĩ nhiên chúng tôi sẽ dọn dẹp sạch sẽ không để lại dấu vết gì làm phiền đến ông nếu lỡ cảnh sát có đến điều tra nay mai. Tu viện vẫn sáng sủa như không có chuyện gì xảy ra.

Ông Chen đối điện với hai vợ chồng, khẩu súng nâng lên ngang tầm bắn:

- Ông bà đã vi phạm luật Abelard. Tội này là tội chết.

Saul phất tay, phân trần:

- Không… không, ông đã nói bãi đậu xe không thuộc về phạm vi của Abelard.

- Tôi không xác định điều đó.

- Erika hỏi ông, tôi nghe rõ ràng mà. Cả ông thầy tu kia cũng nghe ông nói bãi đậu xe không quan trọng…

- Bà âm mưu mang chất nổ vào phạm vi của Abelard hăm dọa tính mạng người khác.

Saul lớn giọng:

- Hăm dọa?... hăm dọa được ai ở trong này? Ông tưởng mìn quấn quanh người Erika là mìn thật hả. Ông soát lại đi, đó chỉ là mấy miếng cạc-tông cuộn tròn rồi sơn lên cho giống thôi. Chúng tôi không mang một vũ khí nào. Có thể chúng tôi phá lệ nhưng vẫn chưa vi phạm luật của Abelard.

- Ông bày mưu tính kế giống như cách ông giết Eliot.

Erika khẽ gật đầu:

- Thế gian bớt đi thêm một thằng bất nhân nhưng làm gì thì làm con tôi cũng không sống lại được. Chúng tôi vẫn mất con. Sự đau đớn này còn kéo dài mãi không thôi. Chúa ơi! Sao con khổ thế này?

Mấy câu sau của Erika lẫn trong nước mắt, nức nở. Saul ôm lấy vợ, vỗ về. Nàng gục đầu vào vai chồng, giọng lạc đi trong cơn xúc động:

- Em nhớ con quá, anh ơi.

- Anh biết… anh biết.

Ông Chen thở dài, xen vào:

- Tôi sẽ cầu nguyện cho cháu.

- Xin cầu nguyện cho chúng tôi nữa…

Lời cuối:

Chuyện hận thù ở một mảnh đất bên kia nửa quả địa cầu được kết thúc tại một Abelard ở Mỹ. Hận thù bắt đầu bằng cái chết của một đứa trẻ, và chấm dứt cũng bằng một cái chết khác, cái chết của kẻ chủ mưu. Dải đất nằm bên bờ biển Địa-trung-hải vốn hiền hòa bình yên mãi cho đến năm 1948, năm quốc gia Do-thái được thành lập. Dân Do-thái lưu lạc khắp bốn phương trời hơn hai nghìn năm, trải qua biết bao thăng trầm. Giấc mơ của họ là mong trở về cố hương, miền đất hứa, nơi mà đấng Giavê đã hứa dành riêng cho tổ phụ Abraham. Trong suốt hai nghìn năm lưu vong của dân Do-thái, dân Palestine di dân đến dải đất đó sinh cơ lập nghiệp. Con cháu họ sinh sôi nẩy nở qua biết bao nhiêu thế hệ. Mặc nhiên, miền đất hứa cũng là quê hương của họ.

Thế là hận thù xảy ra. Cùng một mảnh đất mà hai dân tộc đều tự xem là chủ quyền thì chiến tranh là điều không thể tránh được. Trên thế giới có một vài cuộc tranh chấp như thế: quần đảo Falkland giữa Anh và Á-căn-đình, quần đảo Trường sa và Hoàng sa giữa Trung hoa và Việt nam. Phải nhìn nhận người Do-thái đối xử không công bằng với người Palestine, cũng phải nhìn nhận người Palestine làm nổ bom giết chết nhiều thường dân vô tội. Không biết đâu là nguyên nhân, chẳng hiểu đâu là hậu quả. Trong khi Phật Thích ca dạy, ‘oán thù nên cởi, không nên buộc’ và Đức Giêsu cũng dạy, ‘ai tát con má trái thì đưa luôn má phải’, hoặc, ‘phải tha thứ 77 lần 7’… thì cả hai dân tộc Do-thái và Palestine (cùng chung một tổ phụ Abraham) lại áp dụng triệt để nguyên tắc, ‘mắt đền mắt, răng đền răng.’

Saul và Erika đã trả được thù cho đứa con trai, Habib đã đền tội. Như thế, mắt đã đền mắt. Đảng Hamas của Habib lại xem đó là mất răng và sẽ tìm cách để lấy lại răng. Bom tự sát vẫn nổ ở những nơi thị tứ. Người Do-thái vẫn đối xử bất công và trút hận thù lên dân Palestine. Cuộc chiến sẽ không bao giờ chấm dứt nếu tâm tư của hai dân tộc không thay đổi. Hận thù sẽ triền miên mãi cho đến tận thế. Muôn đời.

 Hải Ngữ ( phóng tác)
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.