Vekt trợn mắt nhìn luật sư Herrera. Hắn vẫn chưa hiểu tại sao thằng cha luật sư lừng danh này lại để cho nhân chứng kể lể dài dòng đến thế. Đáng lẽ ra hắn ta phải ngắt lời khi ông Jagoda nói đến tình trạng thương tâm của người vợ. Hắn cầm bút vẽ một dấu hỏi trên giấy rồi đẩy thẳng sang phía luật sư Herrera nhưng hình như ông chỉ chú tâm lắng nghe những lời diễn tả của nhân chứng nên chẳng màng gì đến tờ giấy Vekt chìa trước mặt.

Giọng ông Jagoda vẫn đều đều:

- Vị bác sĩ giải thích nhà tôi vẫn thoi thóp thở là nhờ sự trợ giúp của những máy móc này, chứ tình trạng bả cũng tệ hại lắm rồi. Đột nhiên, màn hình của chiếc máy đo nhịp tim chạy biểu đồ bỗng gia tốc, tiếng bíp bíp kêu nhanh hơn bao giờ rồi đột nhiên ngừng bặt. Máy vẫn chạy nhưng trên màn hình, biểu đồ chạy một đường thẳng dài. Nhìn xuống giường bệnh, tôi chợt thấy nhà tôi thở hắt ra một tiếng nhẹ rồi nằm im. Khi hơi thở cuối cùng của nhà tôi tan loãng vào không khí là lúc tôi cảm thấy khó thở như lồng ngực đang thiếu dưỡng khí. Thật không ngờ, một lần nữa, tôi lại chứng kiến giây phút cuối cùng của nhà tôi, chỉ khác nhau tình huống và khung cảnh. Vị bác sĩ bắt mạch, chờ đợi một phút, rồi tuyên bố bệnh nhân đã chết. Lúc đó là 2:46 sáng.

Khi nhân viên chuẩn bị tẩm liệm xác nhà tôi, cảnh sát mời tôi qua phòng bên cạnh để lấy lời khai. Xin hỏi ông, trong một tình trạng đau thương như thế, làm sao tôi có thể nhớ hết mọi chi tiết của vụ án mạng.

Herrera thở dài, tỏ vẻ thông cảm. Ông từ tốn:

- Ý ông muốn nói, thưa ông Jagoda, là vì cơn chấn động tâm trí qua cái chết của người vợ, ông quên khai chi tiết mớ tóc bị kéo ngược ra sau và mãi về sau mới chợt nhớ ra.

- Thưa đúng.

Hai viên cảnh sát đi kèm hai bên Vekt đưa hắn đến bàn bị cáo lúc 10:15 sáng. Phiên tòa sẵn sàng thêm một ngày tranh cãi nữa. Tất cả mọi người đều hiện diện; từ cử tọa đến bồi thẩm đoàn, kể cả luật sư bên bị cũng như bên nguyên, ông Jagoda vẫn ngồi trên ghế nhân chứng. Mọi người đều yên vị, trừ vị quan tòa thì chưa có mặt.

Herrera nhìn Vekt:

- Ông thế nào?

Vekt sửa sửa lại cà vạt, chẳng thèm nhìn vị luật sư:

- Ngủ gà ngủ gật, chẳng ra làm sao cả…

Rồi hắn đổi giọng:

- Ông để cho cái thằng già chó chết kể lể nhiều quá. Cả 12 đứa bồi thẩm có vẻ mủi lòng. Chúng mủi lòng thì mình chết. Tại sao ông dại như thế?

- Nếu nhẫn tâm gạt bỏ sự đau đớn của nhân chứng qua một bên lại càng chết nữa. Để cho ông ta nói, nghĩa là chúng ta có quan tâm đến sự mất mát của nhân chứng. Hơn nữa, đây cũng nằm trong kế hoạch của tôi. Những lời kể lể này sẽ rất có lợi cho chúng ta về cuối phiên tòa.

Vekt nhíu mày:

- Vậy sao?

- Ông tin tôi đi.

Hắn tính mở miệng nói thêm nhưng đúng lúc đó, quan tòa Quinn bước vào. Ông đặt mình lên chiếc ghế bành to lớn, lưng ghế cao vượt quá đầu.

- Ai về chỗ nấy. Ông Johnson, còn nhân chứng nào nữa không?

- Chỉ hỏi ông Jagoda một chút nữa thôi, thưa Tòa.

Morris Jagoda ngồi ủ rũ, trông mệt mỏi lắm rồi. Luật sư Johnson hỏi:

- Những gì trên tấm hình của ông Vekt làm ông chú ý cho dù màu tóc khác hẳn?

- Cặp mắt và khuôn miệng của hắn trông khác hẳn bình thường. Bởi vậy cho dù tôi không chú ý nhiều đến hắn nhưng nếu thấy – cho dù thoáng qua – chỉ một lần cũng đủ nhớ những nét đặc biệt đó.

Vekt cúi gầm mặt, khum tay che miệng cứ như sợ bồi thẩm đoàn nhận diện.

Herrera cũng hỏi thêm một câu:

- Ông nhớ lúc tên sát nhân hỏi địa chỉ khoảng mấy giờ không?

- Để xem… như thế này, chúng tôi rời nhà hàng khoảng 10 giờ 5 và tản bộ về nhà. Chúng tôi đi chầm chậm vì Annabelle dận đôi giày cao gót. Bước được một quãng thì hắn xuất hiện. Tôi đoán khoảng 10 giờ 20.

- Mười giờ hai mươi. Cám ơn ông.

Vekt dõi mắt nhìn theo Jagoda khi ông rời ghế nhân chứng về chỗ ngồi. Dáng đi khoan thai nhưng vẫn không dấu được vẻ u buồn trên nét mặt. Ông từ tốn ngồi xuống chiếc ghế cuối ở hàng đầu của cử tọa, sát bên một cặp vợ chồng khoảng trên năm mươi. Hai người này có mặt ngay từ ngày đầu của phiên tòa.

Quai hàm Vekt bạnh ra, tiếng nói rít qua kẽ răng:

- Thằng già Jagoda sao hôm nay cũng có mặt. Tôi nghĩ màn làm chứng của nó xong từ hôm qua chứ.

- Ông không thấy luật sư bên nguyên vẫn còn muốn hỏi thêm sao. Mà phần của ông ta cũng xong rồi, thắc mắc làm gì.

- Tôi phải thắc mắc chứ. Thằng già này nói nhiều quá.

Nghe đến đó, Herrera cố ghìm sự tức giận. Thớ thịt trên hai gò má ông giật từng cơn cứ như người đang bị cơn động kinh. Luật sư Herrera cố gắng kìm hãm cơn tức giận.

- Vợ ông ta bị bắn chết, ông nhớ không?

- Nhớ, nhớ chứ.



Nhân chứng đầu tiên của bên bị cáo là bà mẹ của Harold Vekt.

- Thưa bà Vekt, theo trí nhớ của bà, xin cho tòa biết anh con trai của bà ở đâu vào buổi tối ngày 21 tháng Ba?

- Nó đến nhà tôi ăn cơm.

- Bà hiện ngụ ở đâu?

- Ở Yonkers.

- Bà còn nhớ anh con trai của bà rời nhà lúc mấy giờ không?

- Khoảng 10 giờ kém 10.

- Sao bà nhớ rõ thế?

- Mẹ con tôi đang xem một trận đấu bài tố trên truyền hình. Sau đó, nó giúp tôi dọn dẹp bát đĩa vào máy rửa, rồi vội vàng rời nhà để bắt kịp chuyến xe buýt lúc 10 giờ đêm.

- Thế chuyến xe buýt đến trạm lúc mấy giờ?

- Nếu không kẹt xe, thường là 11 giờ kém 10.

- Cám ơn bà. Giao nhân chứng cho nguyên cáo.

Luật sư Johnson tiến ra đứng giữa phòng tòa, đưa mắt nhìn nhân chứng:

- Bà Vekt, con bà có thăm bà thuờng xuyên không?

- Độ 2, 3 lần một tháng.

- Chỉ có hai ba lần mà sao lần này bà nhớ rõ từng chi tiết đến thế?

- Tôi nhớ vì đó là lần cuối trước khi con tôi bị bắt vì tội sát nhân.

Luật sư Johnson xoay người đối diện với cử tọa:

- Bà Vekt, bà thương con bà chứ?

- Còn phải hỏi, mẹ nào mà không thương con. Nó là đứa con có hiếu.

Vekt mỉm cười khi nghe người mẹ nói hắn có hiếu. Hắn thầm nghĩ có lẽ vì những món quà hậu hĩ hắn tặng cho bà mẹ sau mỗi lần cướp được món bở.

- Vì thương con nên bà làm chứng gian để anh ta khỏi bị đi tù, phải không?

- Tôi không biết…

- Bà chỉ nên trả lời đúng hay sai thôi.

Herrera lên tiếng ngay:

- Phản đối!

Nhưng bà mẹ ngắt lời vị luật sư:

- Tôi không thể trả lời đúng hay sai. Một người không thể trả lời câu hỏi này vì còn tùy thuộc vào tình huống, tâm tình của người mẹ ngay lúc đó nữa. Nhưng tôi cho ông biết, chẳng cần tình huống hay tâm tình gì cả, chỉ vì những gì tôi trả lời đều là sự thật.

Vekt quặp năm ngón tay thành nắm đấm, đập khẽ xuống bàn biểu lộ sự đồng tình. Luật sư khẽ níu ống tay áo của hắn ngăn cản hành động lộ liễu và bất lợi của bị cáo.

Quan tòa Quinn trừng mắt:

- Chấp thuận!

Rồi chuyển ánh mắt sang luật sư Johnson, ông hỏi:

- Còn gì nữa không?

- Thưa không.

Quay sang luật sư Herrera, ông phất tay:

- Gọi nhân chứng tiếp theo.

Luật sư lớn giọng:

- Cho gọi…

Vừa nói đến đó, Vekt kéo giật cánh tay của ông. Herrera chỉ kịp nói xin lỗi tòa thì sức kéo đã rị ông xuống ghế ngồi. Hắn hạ giọng, nói vào tai ông:

- Ông đưa tôi lên ghế nhân chứng đi. Tôi quật cả đám rụng như sung, như bà già tôi vừa làm.

Herrera cau mày. Ông liếc nhìn cử tọa ngồi hàng ghế đầu phía sau rồi ghé sát tai Vekt, bàn tay khum khum cản bớt cường độ của giọng nói gằn từng tiếng một, “Tôi đã nói với ông bao nhiêu lần mà sao ông vẫn ngoan cố. Ông có quyền lên ghế nhân chứng, và nếu ông cứ khăng khăng đòi thì ông cứ việc làm theo ý ông. Nhưng theo kinh nghiệm xương máu của tôi, làm thế thì thua đứt; đúng ra thì chết hết cả đám, ông hiểu không? Danh tiếng bào chữa của tôi không thể bị sứt mẻ vì hành động nông nổi và ngu xuẩn của ông. Bởi vậy, nếu ông muốn ngồi ở ghế nhân chứng thì tôi sẽ xin tòa rút lui, không bào chữa cho ông nữa. Còn nếu ông muốn tôi vẫn ngồi đây thì ông nên ngậm cha cái mồm lại, và để tôi làm việc theo phương cách của tôi.”

Nói xong, ông đứng bật dậy, không cần nghe Vekt trả lời. Hắn nhìn ông trừng trừng. Với lối nói hằn học và khinh bỉ của vị luật sư, Vekt chợt hiểu ra thằng cha Herrera đang cố dùng hết tài năng để chạy tội cho hắn đồng thời cũng biết chính hắn là thủ phạm của vụ sát nhân chứ không ai khác.



- Xin gọi tiến sĩ Madeline Smithers.

Luật sư Johnson vùng dậy:

- Phản đối! Tôi không thấy lý do chính đáng…

Luật sư Herrera cũng không vừa:

- Tôi tin chắc ông hiểu tầm quan trọng của…

Quan tòa Quinn cắt ngang:

- Không nên nói qua nói lại. Mời hai ông lên đây để thảo luận.

Cả hai luật sư bước đến bàn quan tòa. Vị quan tòa kéo chiếc micrô sang một bên, bàn tay bịt kín nó để cử tọa không nghe được gì. Vekt cố lắng nghe nhưng cũng chỉ nghe được vài ba tiếng xì xào mà hắn chẳng hiểu một chút gì, vì toàn thuật ngữ khoa học vượt quá tầm hiểu biết của hắn. Vekt đoán biết cuộc đối thoại gay go qua những cánh tay gặc gặc biểu lộ cương quyết, ánh mắt sáng quắc, hàm răng nghiến chặt, quai hàm bạnh.

Chừng hai phút sau, vị quan tòa tuyên bố:

- Cho phép gọi nhân chứng, và tôi khuyến cáo cả hai ông, chỉ được hỏi trong phạm vi chuyên môn của nhân chứng, không nêu ra một chi tiết nào của vụ án mạng. Các ông hiểu chứ?

Tuy nét mặt lộ vẻ bất mãn nhưng hai vị luật sư vẫn phải gật đầu.



Madeline Smithers trông khác biệt so với những nhân chứng trước ở chỗ dáng người nhanh nhẹn, bước chân vững chãi, tiến thẳng một cách tự tin đến ghế nhân chứng chứ không lấm lét nhìn ngang nhìn dọc. Sau khi đưa tay thề phải nói sự thật, bà khoan thai vuốt nhẹ mặt sau chiếc váy len xanh rồi từ tốn ngồi xuống ghế. Bà ngồi thẳng lưng, hơi ưỡn ngực ra phía trước một chút. Dáng người mảnh dẻ, bà diện chiếc áo thun cổ cao màu xanh nhạt trông thật xứng hợp với khuôn mặt quả trám duyên dáng. Vekt dõi mắt nhìn bà và với cặp mắt nhà nghề hắn nhận ra ngay chiếc nhẫn cưới vàng trên ngón tay áp út và chiếc đồng hồ cũng bằng vàng ẩn dấu dưới ống tay áo bên trái của chiếc áo vét màu xanh hợp thời trang.

Herrera đứng giữa bàn bị cáo và bồi thẩm đoàn:

- Xin bà nêu danh tánh, nghề nghiệp, nơi trú, và nhiệm sở.

- Tôi tên là Madeline Curry Smithers, tiến sĩ. Hiện tôi đang ở Chicago và là giảng sư toàn thời tại phân khoa Tâm lý thuộc Đại học West Chicago.

- Xin nói rõ bà chuyên khoa về lãnh vực nào.

- Mười bảy năm qua, tôi và các cộng sự viên đặc biệt nghiên cứu về lãnh vực nhận thức và trí nhớ, nhất là về sự chuẩn xác về nhận diện cũng như về nhận dạng.

- Bà khám phá được gì qua công trình nghiên cứu?

- Đáng tiếc là sự bất chuẩn và sai sót khi nhận dạng thường xảy ra phổ biến.

Luật sư Johnson đứng phắt dậy:

- Phản đối! Danh từ “phổ biến” ở đây không phù hợp.

- Tôi sẽ đi vào chi tiết để ông thấy.

- Bác bỏ!

Herrera quay lưng lại nhìn cử tọa:

- Theo khám phá của bà, thưa tiến sĩ Smithers, lý do nào dẫn đến sự bất chuẩn?

- Có nhiều ảnh hưởng để chúng ta nghĩ rằng chúng ta nhớ chính xác. Ngay cả từ ngữ dùng trong câu hỏi cũng rất là quan trọng.

- Xin đơn cử một ví dụ.

- Khi nhân chứng nhận diện qua hình ảnh hoặc qua một nhóm người, viên cảnh sát đôi khi hỏi, “ai là tên sát nhân trong số những người này?” thay vì hỏi “anh có thấy tên sát nhân trong số những người này không?”. Câu hỏi đầu gần như khẳng định rằng trong nhóm người này đã có tên tội phạm trong khi câu hỏi thứ hai để cho nhân chứng tự do chọn lựa theo ý mình. Nhân chứng khi nghe câu hỏi thứ nhất tự đặt mình vào tình trạng bắt buộc phải chọn lựa, mà thường khi bị áp lực như thế, nhân chứng thường nhớ sai, hoặc nếu có nhớ thì những chi tiết đó cũng bị bóp méo, lệch lạc.

Nhân chứng thường cảm nhận được qua giọng nói và cách nói của người hỏi rồi tự đoán ý muốn của người đó và tìm câu trả lời tương ứng. Điều này không có nghĩa là họ nói dối nhưng đó là điểm tâm lý tế nhị khiến nhân chứng thường đưa ra những câu trả lời sai với thực tế.

- Thưa tiến sĩ, còn những người vừa trải qua một cơn chấn động về tâm trí có thể nhớ hết các chi tiết không?

- Đôi khi, cơn chấn động về tâm trí chế ngự sự quan sát. Khám phá của chúng tôi đi ngược lại với quan niệm thông thường trước đây cho rằng tất cả những gì người ta quan sát đều nằm hết trong trí nhớ và khi nhớ lại sẽ nhớ hết từng chi tiết. Sự nhận thức thường đi vào trí nhớ từng mẩu vụn, và chúng ta thường góp nhặt những mẩu vụn này lại thành một chuỗi, gọi là ký ức. Những lúc “chợt nhớ”, hoặc “bỗng thấy lại…” chỉ là kết quả của một sự bất định hơn là sự chuẩn xác của trí nhớ.

- Sự chuyển tiếp từ bất định đến bất chính xác…

- Phản đối! Danh từ “Bất chính xác” ám chỉ khi nhớ lại lúc nào cũng sai.

Quan tòa Quinn hết nhìn Herrera đến Johnson, ngẫm nghĩ một giây rồi nói:

- Chấp thuận!

Luật sư Herrera đổi cách hỏi:

- Trong trường hợp này, tôi muốn biết khi nhớ lại với cơn chấn động như thế luôn luôn sai không?

- Không thể chính xác 100%. Nó chỉ chính xác ở mức độ thấp mà người ta phải rất thận trọng nếu muốn tin vào lời khai như thế.

Luật sư Johnson lớn tiếng:

- Phản đối! Nên để cho bồi thẩm đoàn xác định lời khai của nhân chứng đúng hay sai. Đây chỉ là ý kiến của một nhà chuyên môn mà thôi.

- Chấp thuận! Xóa bỏ hết câu sau chữ “phần trăm” (quan tòa nói với viên thư ký đang ghi chép).

Herrera cười mỉm. Ông quay lại, đối diện với bà Madeline.

- Xin bà cho biết sự chuẩn xác của trí nhớ trong một tình huống có súng uy hiếp tính mạng, có dính líu đến vũ lực và gây tử thương thì thế nào ạ.

- Khi có súng thì nạn nhân thường nhìn khẩu súng. Nói chung, cái gì gây ra đe dọa, nguy hiểm đến tính mạng thì người ta thường chú ý đến cái đó. Còn những chi tiết khác thì thường rất mơ hồ, hoặc không được chú ý một chút nào.

- Kể cả khuôn mặt?

- Vâng! Đúng như thế.

Herrera bước về bàn bị cáo, lục tìm trong tập hồ sơ và lôi ra một tờ giấy. Nhón bằng hai ngón tay, ông khẽ lắc lắc tờ giấy gây ra tiếng sột soạt, đủ để cặp mặt lờ đờ của Vekt mở lớn.

- Tiến sĩ Smithers, bà có nghiên cứu về tiến trình nhận dạng của sở cảnh sát không ạ?

- Tôi đã tiến hành 2 cuộc khảo sát, một với các sinh viên đại học, hai là với một nhóm người được chọn lựa ngẫu nhiên. Cuộc khảo sát này đã được tiến hành ở các trường đại học khác, và kết quả gần như giống nhau đến độ không ngờ.

Trong các cuộc khảo sát này, những người có mặt tại hiện trường nhận diện “kẻ ác” trong số 6 người xếp hàng một. Kết quả là 67% của những cuộc khảo sát, các nhân chứng đều nhận diện sai, cho dù trong số 6 người đứng có hay không có “kẻ ác”.

Nhân chứng có khuynh hướng chọn người người xuất hiện tại hiện trường vào giây phút cuối cùng trước khi xảy ra “án mạng”. Như trường hợp một nhân công bước vào hiện trường chỉ để thu rác ngay trước khi xảy ra vụ ẩu đả. Anh ta đứng với 5 người nữa để được nhận diện. Năm mươi tám (58%) phần trăm số người đều xác định nhân công này là người đấm vào mặt “nạn nhân”.

Luật sư Herrera để lời tường thuật của tiến sĩ Smithers ngấm vào trí cử tọa, nhất là 12 người trong bồi thẩm đoàn rồi nới cất tiếng hỏi:

- Trường hợp này, người bị nhận dạng sai cần phải có mặt tại hiện trường không?

- Không nhất thiết phải có mặt tại hiện trường. Có thể là một hình bán thân đâu đó trên truyền hình, hoặc trên một tờ báo, hoặc từ hồ sơ lưu trữ của sở cảnh sát.

Herrea lập lại và nhấn mạnh từng chữ:

- Hoặc từ hồ sơ lưu trữ của sở cảnh sát.

- Đúng. Nhất là khi hình 5 (trong 6 người) người kia không nằm trong hồ sơ lưu trữ của sở cảnh sát. Người thứ 6 còn lại thường bị nhận diện là thủ phạm vì nhân chứng được thấy hình trong hồ sơ trước khi điểm mặt.

Tiến sĩ Smithers nói thêm:

- Nên nhớ rằng, những nhân chứng này không chủ đích vu oan, làm chứng dối. Họ vẫn tin tưởng rằng họ nhớ đúng khuôn mặt. Đây chỉ là một khiếm khuyết của trí nhớ.

Luật sư Herrera xoay người đối diện với bồi thẩm đoàn:

- Nhân chứng hoàn toàn tin tưởng vào những chi tiết không hề là sự thật. Điều này thật nguy hiểm và đáng sợ.

Luật sư Johnson vớt vát yếu đuối:

- Phản đối!

- Chấp thuận! Xin đừng diễn nôm nữa, ông Herrera.

Trước khi ngồi xuống, luật sư Herrera khéo léo che đậy nụ cười thỏa mãn. Ông lịch sự:

- Xin lỗi.

Vekt hừ nhẹ, tay nắm thành quả đấm gặc mạnh. Dáng ngồi buồn ngủ biến mất hẳn, nét mặt hắn rạng rỡ hơn bao giờ.



- Bồi thẩm đoàn đã có bản tuyên án?

Giọng của quan tòa Quinn lạnh lùng, nét mặt bình thản khi hỏi bồi thẩm đoàn. Cả 12 người sau gần một ngày bàn cãi, thảo luận, cuối cùng đã đi đến quyết định với số phiếu 100%. Số phận của Vekt, có tội hay được tha bổng, hoàn toàn tùy thuộc vào sự phán quyết này.

Viên trưởng bồi thẩm đoàn vóc dáng xương xương, mặc bộ quần áo bằng vải jean với chiếc áo khoác dày màu xanh lá cây, trả lời:

- Vâng, thưa Tòa.

Hai chân của Vekt bỗng nhiên run lên bần bật. Hắn cố giữ bình tĩnh nhưng đối diện với giây phút sinh tử hắn không tránh khỏi sự lo sợ thường tình. Những lần ra tòa trước, với tội cướp, bản án nặng nhất dành cho hắn là 9 tháng tù ở. Lần này khác hẳn, vụ án có liên quan đến một mạng người. Nếu bị kết án, hắn có thể ngồi tù từ 25 năm đến chung thân. Hắn còn trẻ quá, còn yêu đời. Ở tù chừng ấy năm thì xem như cuộc đời hắn gần như bị chôn vùi trong 4 bức tường quét vôi trắng của nhà tù.

Vị quan tòa ra lệnh cho hắn đứng dậy để nghe bản án. Luật sư khều tay Vekt. Hắn loạng choạng đứng lên, Herrera phải đỡ lấy cánh tay nếu không hắn đã ngã ập vào người vị luật sư. Tất cả mọi người đã đứng dậy, bên nguyên cũng như bên bị, trừ cử tọa.

Quan tòa Quinn ra lệnh:

- Nhờ ông đọc bản án.

Viên trưởng đoàn cất giọng bình tĩnh:

- Tất cả tội xướng danh, bồi thẩm chúng tôi đều thấy vô tội!

Vekt thở hắt ra một hơi dài rồi ngã ngồi trên ghế như võ sĩ bị cú đấm nặng ngàn cân ngay cằm. Tù nãy giờ hắn đứng không vững, hai đầu gối cứ đánh vào nhau côm cốp, chân tay bủn rủn như người bị bại liệt. Hắn đứng gần như tựa vào người vị luật sư, thân hình mềm nhũn như cây chùm gửi. Vekt nín thở, lắng tai nghe. Vừa nghe xong hai chữ “vô tội”, hắn không còn đủ sức đứng nữa. Thần kinh hắn căng thẳng đến tột cùng. Cả câu viên trưởng đoàn đọc chỉ chừng hơn mười chữ, vậy mà mỗi chữ hắn nghe như viên đại bác nổ rền bên tai. Nếu viên đội trưởng đọc bản án chậm đi vài giây, có lẽ hắn sẽ ngã chết ngay vì đứt gân máu.

Luật sư Herrera phải kéo cánh tay hắn đứng dậy kẻo không lại bị kết tội khinh dể Tòa. Quan tòa Quinn đập búa xuống bàn, dõng dạc:

- Bị can được trả tự do.

Lần này Vekt thở phào. Hắn nhìn sang bên và thấy luật sư Johnson đứng như trời trồng, hai tay đưa ra phân bua với hai người phụ tá. Bên nguyên cáo thua, thua đậm vụ án mạng này vì tài hùng biện của luật sư Herrera. Vekt chợt nhớ đến vị luật sư bào chữa cho hắn. Vekt quay sang định ôm lấy bàn tay của ông nói lời cám ơn nhưng Herrera đã cúi người xuống mở cặp lôi ra một phong bì khá to rồi trao cho hắn.

- Có người bảo tôi phải trao cho ông phong bì này nếu ông trắng án. Ai giao cho tôi và trong đó đựng cái gì, tôi hoàn toàn không biết.

Nói xong, Herrera gom đống giấy tờ xếp vội vào cặp, đóng nắp rồi quày quả bước ra khỏi tòa. Thường những giây phút thắng cuộc như thế, ông đứng lại mỉm cười, bắt tay thân chủ, và lần lượt những người phụ tá trong nhóm bị cáo. Những người hâm mộ sẽ lợi dụng lúc này, tiến đến bắt tay và chúc mừng ông. Ông sẽ cám ơn và quay nhìn hết một vòng tòa, hít một hơi dài rồi thở ra nhà nhẹ, thụ hưởng cho hết những phút sảng khoái như viên tướng vừa thắng một trận lớn. Đằng này, ông không chờ một ai. Ông bỏ đi gần như chạy ra khỏi tòa án như không muốn xem đó là sự vinh quang sau khi bào chữa trắng án cho thân chủ. Còn Vekt, hắn đứng ngẩn người nhìn ông Herrera đang quay lưng bước vội như muốn tránh không muốn nghe hắn mở miệng hỏi một câu rồi nhìn sang tấm phong bì khá dày đang cầm trên tay.

Tấm phong bì lớn khổ 8x20cm; trên mặt chẳng thấy viết tên người gửi hoặc người nhận. Đang ngơ ngác, Vekt giật mình khi nghe tiếng mẹ hắn hỏi:

- Cái gì vậy?

- Không biết. Thằng cha luật sư mới đưa.

- Chi phí tòa án hả?

- Chi phí nào? Đã bảo là thằng cha đó cãi thí mà. Để về nhà rồi mở ra cũng không muộn.

Mẹ hắn giọng vui vẻ:

- Đến tiệm ăn mừng đi con.

Mẹ con kéo nhau đến tiệm. Vekt gọi một đĩa thịt bò, uống hai chai bia. Ăn no nê xong, hắn đưa bà mẹ đến trạm xe buýt, hứa chừng vài ngày nữa sẽ về thăm.

Về đến nhà, Vekt ném tấm phong bì lên bàn. Hắn ngồi bệt xuống sô-pha, hai tay đỡ lấy cằm, mắt nhìn chằm chằm vào tấm phong bì. Vekt cầm nó lên, tay mân mê đoán thử cái gì ở bên trong chứ chưa muốn mở ra. Hắn đứng lên bước đến tủ lạnh, lấy chai bia, khui nắp rồi bước lại sô-pha. Hắn ngửa cổ nốc gần nửa chai, khà một tiếng rõ to rồi đặt chai bia xuống bàn.

Sẵn con dao cắt thịt nằm xớ rớ một bên, Vekt cầm lên rọc ngang miệng phong bì rồi đổ tràn mọi vật bên trong lên bàn. Hai xấp tiền giấy 20 đồng mới toanh rơi ra trước, và một tờ giấy gấp ba lấp ló ở miệng phong bì. Vekt ném tấm phong bì sang bên, hai tay vồ lấy xấp giấy bạc. Hắn cầm lên, bẻ cong xấp giấy bạc, dùng ngón tay cái lướt một vòng. Tiếng giấy bạc chạy đập vào nhau nghe dòn tai. Ôi! nhiều quá, hắn nghĩ thầm. Cả đời, mấy lần hắn cầm được nhiều tiền đến thế đâu, trừ vài hôm vớ được món bở. Vekt cẩn thận đếm từng tờ một. Đếm mãi hắn nhẩm ra được 125 tờ giấy 20, hai xấp như thế là 250 tờ. Nhẩm nhẩm một chút, hắn tính ra hai xấp bạc là năm nghìn đồng. Trời ơi! năm nghìn chứ ít ỏi gì, mà của đâu từ trên trời rơi xuống mới sướng chứ. Chưa bao giờ Vekt cảm thấy đời sáng sủa như lúc này. Vừa được trắng án, tội sát nhân mà đáng lẽ hắn phải ngồi tù 25 năm, lại vừa được ai biếu không năm nghìn. Thật là một ngày may mắn nhất trong đời. Hắn đến tủ lạnh khui tiếp một chai bia nữa. Vekt tu gần hết chai rồi moi tờ giấy ra. Hắn lẩm nhẩm đọc:

Thưa ông Vekt,

Tôi đang cần một người với thể lực tuyệt hảo và kỹ năng tuyệt luân như ông để giúp tôi làm một việc. Trong bao nhiêu người được xem xét, tôi chọn ông vì ông nổi bật hơn hẳn những người kia.

Việc làm nhỏ thôi, ông thừa khả năng để hoàn thành. Ông chỉ làm một lần rồi nhận thù lao – tôi nghĩ – thù lao này sẽ làm ông vừa lòng, rất vừa lòng. Vì tôi không muốn ai biết việc làm tôi nhờ ông nên tôi rất mong ông giữ bí mật; không hở môi cho một ai biết, kể cả họ hàng thân thuộc. Sự bảo toàn bí mật bắt đầu ngay từ bây giờ, nên xin ông kín miệng về số tiền trong phong bì này.

Nếu ông chấp thuận, mời ông đến địa chỉ 774 W. đường 32nd vào lúc 9:30 tối thứ Sáu. Tòa nhà này có nhiều cửa vào nhưng xin ông dùng cửa lớn sát bờ sông. Cánh cửa này sẽ được mở ra chỉ 10 phút, từ 9:25 đến 9:35, sau đó là đóng chặt. Ông có 10 phút để mở cửa vào gặp tôi. Gặp nhau, tôi sẽ nói rõ công việc tôi nhờ ông. Xin ông đừng mang theo vũ khí. Công việc tôi nhờ nhẹ nhàng, chẳng cần đến vũ lực.

Số tiền 5 nghìn trong phong bì này là số tiền ứng trước để ông yên tâm. Đây chỉ là 1/10 số tiền công; nghĩa là khi việc xong, ông sẽ nhận thêm 45 nghìn nữa. Với số tiền công 50 nghìn cho một công việc nhẹ, tôi mong ông sẽ không từ chối.


Nếu ông từ chối không muốn nhận việc cũng chẳng sao. Số tiền 5 nghìn này xem như tôi biếu ông, gọi là chút quà mọn tỏ lòng mến phục ông. Khi nhận số tiền này, tôi chỉ mong ông giữ im lặng, không hở môi cho ai biết chuyện này. Chỉ đơn giản như thế.

Cuối thư đánh máy chẳng thấy ký tên, xem như bức thư nặc danh. Hắn ngồi cau mày suy nghĩ về lá thư. Dù ít học nhưng lối hành văn hắn vẫn cảm thấy quen quen. Hình như hắn đọc cái lối viết này đâu đó rồi. Bỗng nhiên, hắn nhớ đến chồng hồ sơ của luật sư Herrera. Trước khi ra tòa, hắn phải gặp luật sư biện hộ đến chục lần để bàn chuyện. Herrera đưa cho hắn đọc những lá thư ông gửi cho tòa. Đọc mãi rồi hắn cũng làm quen với lối diễn tả của vị luật sư này. Lá thư này hao hao lối viết của vị luật sư biện hộ cho hắn. Thắc mắc nhú lên rồi biến mất hẳn vì tâm trí hắn vẫn mải nghĩ đến số tiền 5 nghìn ứng trước, đang nằm ngay trước mắt. Vekt chưa biết phải làm chuyện gì, nhưng với số tiền 45 nghìn còn lại, hắn không thể nào từ chối. Bất cứ giá nào hắn phải tìm đến địa chỉ để gặp chủ nhân và sẽ hoàn thành việc làm trong một thời gian nhanh nhất.

Mưa lất phất mơn man trên mặt khi Vekt bước về hướng Tây tìm địa chỉ nằm trên đường 32. Tuyến xe buýt chạy về hướng Tây cũng khá nhộn nhịp, cứ mỗi 3, 4 phút là có một chuyến, nên Vekt chẳng phải chờ lâu. Gần đến nơi, hắn thả bộ tìm số nhà. Tòa nhà nằm ở cuối đường, hắn thấy số nhà 774 sáng lấp lánh, những con số làm bằng loại giấy dán có pha lân tinh. Vekt đến địa chỉ lúc 9:15 tối.

Tòa nhà uy nghi, chiếm một diện tích khá lớn. Đứng ngoài đường nhìn vào, Vekt thấy cái vẻ bề thế của mặt tiền của tòa nhà. Ánh đèn lờ mờ từ ngọn đèn đường hắt vào đủ sáng để hắn thấy hai cánh cửa sắt lớn quá khổ. Hai cần nắm cũng bằng sắt dài cỡ hai gang tay, to bản, bắt vít sắt vào hai cánh cửa. Vekt đặt tay lên cần nắm kéo ngược. Cửa khóa. Hắn nhìn đồng hồ, vẫn chưa đến 9 giờ 25. Trời lạnh dần về khuya, Vekt co ro đứng trước cửa, hai tay xoa vào nhau tìm hơi ấm, bước qua bước lại trên thềm gạch bông để tạo hơi nóng.

Đúng 9 giờ 25, Vekt nghe tiếng lách cách của kim khí va chạm rồi tiếng khóa mở. Hắn kéo thử cần nắm. Cửa mở. Vekt bước vào.

Một màn tối đen, đen kịt khi hắn nhìn vào bên trong, tối đến nỗi hắn không thấy rõ bàn tay đang đưa ra phía trước dò lối. Vekt đứng khựng lại, cất tiếng: “Hey, có ai không?”. Tất cả đều yên ắng, một sự yên ắng đáng sợ. Hắn chột dạ khi nhìn vào bóng tối đen kịt, im lìm một cách đe dọa. Cánh cửa đàng sau tự động đóng lại, lại tiếng kim khí kêu lách cách rồi tiếng khóa đập vào nhau nghe khô khốc đến rợn người. Hắn chợt rùng mình. Chưa biết công việc thế nào nhưng phần mở đầu bí mật quá, hắn định quay ra nhưng cánh cửa đã khóa chặt. Bao nhiêu năm đi cướp của, thậm chí giết người nên một chút lo sợ chợt thoáng lên rồi tắt ngúm. Vả lại, tiền công 45 nghìn lớn quá. Chính số tiền này thôi thúc hắn có can đảm.

Biết không thể nào lùi, hắn dò dẫm tiến lên.

Ngay lúc đó, ánh đèn néon hai bên tường nhấp nháy rồi bật sáng. Ánh sáng vàng vọt yếu ớt hắt xuống sàn từ những bóng đèn cũ lấm đầy mạng nhện đủ giúp hắn thấy một dãy hành lang dài hun hút. Ngay giữa sàn lấp lánh những mũi tên chỉ đường làm bằng loại giấy dán màu xanh như những con số dán trên cửa. Hắn lần bước theo dấu mũi tên, miệng vẫn hỏi: “Có ai không?”.

Cứ bước được vài bước, hắn lại cất tiếng hỏi rõ to. Dãy hành lang sâu thẳm nuốt trửng lấy tiếng hỏi của hắn không một âm vang. Không gian tĩnh mịch, yên ắng đến nỗi Vekt nghe cả tiếng bước chân của hắn, cho dù hắn bước rón rén, cố không gây ra tiếng động. Bước được khoảng chừng 20m, dấu mũi tên rẽ trái, rồi rẽ phải và hắn đứng trước một cánh cửa sắt màu xám tro. Mũi tên màu xanh chỉ đúng vào ngưỡng cửa, một nẹp nằm ngang bằng sắt.

Hắn cẩn thận đẩy cửa bước vào và dáo dác nhìn chung quanh. Đèn trên trần thấp lè tè nhấp nháy rồi bật sáng, thứ ánh sáng nhợt nhạt tỏa lan trong căn phòng hình chữ nhật, trống hoác. Vekt lờ mờ thấy dấu mũi tên trên sàn, dẫn đến một cánh cửa nữa ở cuối phòng. Vekt không còn giữ được bình tĩnh nữa, hắn to tiếng chưởi rủa, “Đồ chó đẻ! Cha tiên sư chúng mày bày trò…” Hắn giận dữ chạy đến cánh cửa ở cuối phòng, dùng hết sức xô cửa. Hóa ra cánh cửa chỉ đóng hờ, làm hắn mất thăng bằng. Vekt loạng choạng suýt ngã nhào vào bên trong. Tối om.

Ngay lúc đó, đèn trần của căn phòng hình chữ nhật tắt phụt. Cánh cửa sắt chuyển mình kêu kẽo kẹt rồi tự động khép lại. Khung cảnh đột nhiên chìm trong bóng tối. Vekt hết cảm thấy sợ. Hắn giận dữ hét lên, “ĐM, mày chơi cái trò gì vậy?” Vekt mò mẫm đi ngược lại cánh cửa vừa đóng. Mặt cửa nham nhám và hắn không tìm thấy một quả nắm nào. Vekt đấm rầm rầm vào cánh cửa, gào lên, “Bật đèn lên thằng chó đẻ! Tao giết mày! Tao giết mày!...” Trong bóng đêm, chỉ nghe tiếng đấm cửa và tiếng gào của hắn.

Đấm mãi một lúc đến rát cạnh tay, hắn mệt mỏi xoay người tựa lưng vào cánh cửa. Đột nhiên, ánh sáng lóe lên ở góc phòng. Vekt định thần nhìn cho rõ. Hóa ra chiếc bàn con. Một bóng đèn chừng 25 oát treo từ trần thòng xuống cách mặt bàn chừng nửa thước tỏa ánh sáng vàng vọt nhưng đủ để hắn thấy trên bàn đặt một tờ giấy. Hắn tiến đến cầm lên. Vekt nhận ra tờ giấy cùng một khổ và khuôn chữ đánh máy in hệt như tờ giấy hướng dẫn hắn tìm đến địa chỉ này.


Chào ông Vekt,

Chào mừng những ngày tháng còn lại của cuộc đời ông!

Tôi làm chủ tòa nhà này. Nó gần như bỏ hoang nhiều năm nay. Chẳng ai mò đến tòa nhà ở cuối đường này làm gì. Bốn bức tường bao quanh cuộc đời ông dày gần nửa mét.

Có lẽ ông đã thấy một cánh cửa nữa dẫn sang phòng bên, thêm một thế giới nhỏ bé nữa cho cuộc đời ông. Trong căn phòng đó, đặt một tủ lạnh, thêm một bồn rửa (xin lỗi, chỉ có nước lạnh), và một bồn cầu. Chỗ ngủ, ông sẽ tìm thấy một tấm nệm cuộn tròn dấu trong tường, và thêm hai bóng đèn dự trữ.

Thức ăn trong tủ lạnh vừa phải, ông nên dùng tiết kiệm. Dĩ nhiên, thức ăn sẽ được cung cấp lần tới nhưng chẳng ai biết lần tới là khi nào.

Cánh cửa dẫn vào căn phòng nhỏ được tự động điều khiển. Nó sẽ mở ra 2 lần một ngày, lúc 8 giờ sáng và 8 giờ tối, và mỗi lần mở chỉ đúng 20 phút. (mở cửa đúng giờ như thế giúp ông biết được thời gian, vì sẽ có lúc đồng hồ đeo tay của ông hết pin, ngưng chạy). Căn phòng chỉ có một bóng đèn này nên ông sẽ không biết ngày và đêm. Trong hai lần cửa mở để thông thương hai căn phòng, ông hoàn toàn tự do đi lại nhưng nên nhớ giờ đóng cửa. Nếu kẹt lại trong căn phòng hình chữ nhật này mà muốn đi tiểu thì ông cứ dùng ống cống ngay giữa phòng.

Ông sẽ không có cơ hội thoát khỏi tòa nhà này, ngay cả trước khi ra đi ông không giữ lời hứa thổ lộ chuyện bí mật này với một người nào đó. Những mẩu giấy dán màu xanh bằng lân tinh bây giờ đã có người lột sạch, kể cả số nhà dán trên cửa. Cho ông biết thêm rằng con đường 32 không hề có số 774, số nhà lớn nhất chỉ đến 500.

Ông vẫn sống, ông Vekt, như tôi vậy. Có thể ông sống lâu hơn tôi vài ngày, nếu thức ăn vẫn còn trong tủ lạnh khi tôi chết. Bây giờ cuộc sống đối với tôi chẳng nghĩa lý gì nữa kể từ ngày vợ tôi bị giết chết đau đớn. Và khi tôi tính chuyện ông xong xuôi thì tôi chẳng còn gì tha thiết trên cõi đời ô trọc này nữa.

Bây giờ ông đã biết tôi là ai. Ông cũng biết ai đã trả tiền công biện hộ cho ông. Một vị luật sư lừng danh như ông Herrera không bao giờ cãi thí cho bất cứ người nào, ngay cả khi có lệnh tòa. Tiền công trả cho tiến sĩ Smithers cũng không rẻ, không dưới 5 con số không. Ông cần biết thêm là hai người này được tôi mướn qua trung gian. Họ chẳng hề biết tôi là người đạo diễn mọi chuyện.

Tại sao tôi lại chấp nhận tốn một số tiền lớn như thế để bào chữa cho ông trắng án. Vì thưa ông, luật pháp ở đất nước này có lỗ hổng. Lỗ hổng này đủ lớn để những kẻ can tội giết người như ông chui lọt. Để tôi tính rợ cho ông nhé. Bản án dành cho ông tôi đoán cỡ 25 năm đến tù chung thân. Bây giờ cứ lấy con số 30 năm tù ở đi. Những tên phạm tội sát nhân phải được nhốt trong một nhà tù đặc biệt nên chi phí để giữ ông an toàn trong 4 bức tường rất lớn. Ở tù, ông làm gì? Ông được ăn ngày 3 bữa, những bữa ăn có đầy đủ chất bổ để bảo đảm sức khỏe cho ông. Đau ốm vẫn có bác sĩ chăm sóc, bệnh nặng vẫn được đưa đến nhà thương điều trị. Ông vẫn có giờ tập thể dục, tắm rửa, xem TV… nghĩa là ông hưởng được tất cả những tiện nghi như mọi người khác. Ông chỉ mất tự do. Ông chẳng phải làm một công việc gì để “mua” những “tiện nghi” như thế. Ông chỉ việc ngồi không, ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí… Và thưa ông Vekt, ông biết chi phí mà những công dân lương thiện khác phải trả để ông sống an lành trong nhà tù một năm là bao nhiêu không? Thưa 50 nghìn. Chúng tôi, những người không phạm tội giết người như ông, phải đi làm cực khổ, và đóng thuế để nuôi ông. Đấy, cái lỗ hổng của luật pháp ở xứ này là thế!

Ông sống 30 năm trong nhà tù đặc biệt, chúng tôi phải tốn môt triệu rưỡi ($50.000 x 30) để nuôi ông. Sau thời gian ở tù, ông lại được tha về. Có thể không bao giờ ông cướp của giết người nữa, mà cũng có thể ông vẫn ngựa quen đường cũ. Rồi ông lại vào tù, rồi chúng tôi lại nuôi ông. Nghịch lý quá! Vô lý quá! thưa ông Vekt.

Có lẽ ông không thấy cái phi lý đó, nhưng tôi thấy. Số tiền tôi bỏ ra để mướn luật sư Herrera và tiến sĩ Smithers hầu họ cãi cho ông trắng án so với chi phí phải bỏ ra để nuôi ông trong 30 năm tính ra thật rẻ, quá rẻ. Còn chi phí cho một ngày tôi nuôi ông ở đây lại càng rẻ nữa. Và ông tin tôi đi, chắc chắn thời gian ông ở đây không thể kéo dài 30 năm. Chừng chục ngày, có thể vài tuần, và cùng lắm là hơn tháng nếu tôi còn sống để tiếp tế thức ăn cho ông.

Báo cho ông một tin vui. Sau khi đọc xong bức thư này, ông cẩn thận đặt nó xuống bàn, đừng xé. Tôi nhắc lại, đừng xé. Đây là cái giá mà tôi sẽ thưởng công bằng cách tiếp tế cho ông thêm một lần thức ăn nữa.



Như lá thư trước, hắn chẳng thấy ai ký tên.

Harold Vekt thả rơi tờ giấy, ngồi bệt xuống sàn. Hắn cong người nôn thốc tháo trên sàn tất cả những thức ăn lúc chiều.

Cuộc đời mới của Vekt vừa bắt đầu.

 Hải Ngữ ( phóng tác)
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.