- Đăng ngày 31 Tháng 1 2013
- Lượt xem: 2706

Kinh thánh nói nhiều đến loài vật. Thời Cựu ước, dân Do-thái thường dùng chiên trong việc tế lễ, dùng lừa và lạc đà trong việc di chuyển. Vì là dân du mục nên họ sống không nhất định một chỗ và mỗi lần di chuyển họ đều lùa theo tất cả gia súc. Gia súc và các loài thú nói đến nhiều nhất khi ông Nô-e mang từng cặp lên tàu để tránh nạn lụt Đại hồng thủy.
Vì năm Rắn sắp đến nên bài viết này chỉ bàn đến Rắn trong Kinh thánh mà thôi. Hy vọng chúng ta rút tỉa được một vài điểm lý thú.
1. Sách Sáng Thế Ký chương 3:11-13 kể lại đối thoại giữa Giavê và A-dong, E-và sau khi hai ông bà ăn trái cấm vì nghe theo lời con rắn dụ dỗ. Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn." Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế? " Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn."
Ông A-dong đổ lỗi cho bà E-và . Bà E-và đổ lỗi cho con rắn. Không ai dám nhận lỗi trước mặt Giavê. Đành rằng con rắn là đầu mối sự tội, nhưng chính mình cũng đã phạm lỗi. Nếu A-dong thẳng thắn nhận lỗi ngay từ đầu, có thể sự việc sẽ khác đi chăng? Hoặc bà E-và nói sự thật là chính con đã dụ dỗ chồng phạm lỗi thì không chừng Giavê lại giơ cao đánh khẽ? Nhưng sự việc đã không xảy ra như thế. Hai ông bà đã đổ lỗi vòng vo.
Tôi thường nói với con cái, “nếu có gan phạm lỗi, thì cũng phải có can đảm nhận lỗi.” Thẳng thắn nhận lỗi là một hành động can đảm của con người trưởng thành. Cái làm cho con người sợ không dám nhận lỗi chính là hình phạt. Mà nếu sợ hình phạt thì cố tránh đừng phạm lỗi. Vai trò của hình phạt thật cần thiết trong đời sống xã hội. Hình phạt có tác dụng như một lời răn đe, một nhắc nhở để giúp mỗi người tránh phạm luật, phạm lỗi. Và nếu lỡ phạm thì phải cố vượt qua thói sợ hãi thường tình để nhận lỗi. Khi can đảm nhận lỗi, tư cách của họ nổi bật hẳn chứ không hề bị suy giảm, cho dù họ đã phạm lỗi. Nhân cách của họ đáng phải khâm phục.
2. Sách Xuất hành chương 7:8-10 kể lại vua Pha-ra-ôn đòi một phép lạ để chứng tỏ Đức Giavê muốn đưa dân Is-ra-en ra khỏi đất Ai-cập. Đức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron: "Nếu Pha-ra-ôn bảo các ngươi: Hãy làm một phép lạ xem, thì ngươi hãy nói với A-ha-ron: Anh cầm cây gậy của anh, ném xuống trước mặt Pha-ra-ô, và gậy sẽ hoá thành một con rắn to." Ông Mô-sê và ông A-ha-ron liền đến với Pha-ra-ô và làm như Đức Chúa đã truyền. Ông A-ha-ron ném cây gậy của mình xuống trước mặt Pha-ra-ô và bề tôi của vua: gậy hoá thành một con rắn to.
Vua Ai-cập cứng lòng. Mặc dù đã thấy phép lạ cây gậy hóa rắn mà vua vẫn không tin. Mãi đến lúc các con đầu lòng trong dân Ai-cập bị chết (trong đó có con của vua) thì vua mới sợ hãi và bằng lòng để Mô-sê dẫn dân Is-ra-en ra khỏi Ai-cập.
Đôi lúc chúng ta cũng cứng lòng như vua Pha-ra-ôn, đòi cho được phép lạ. Thật ra phép lạ xảy ra hằng ngày, quanh chúng ta. Trong số người Việt sống ở hải ngoại, phần lớn đều vượt biển tìm tự do. Chuyện sống chết mong manh mấy chục năm trước chắc chắn chúng ta không thể nào quên. Bão tố, đói khát, cướp bóc, hãm hiếp… vậy mà vẫn đến đất liền. Có những tàu lênh đênh trên biển đến cả tháng, vậy mà vẫn có người sống sót. Lên bờ ai ai cũng chép miệng bảo là phép lạ. Người theo đạo Phật thì tin rằng Phật bà đã dìu con thuyền qua sóng gió. Người Công giáo thì tin có Mẹ Maria đỡ nâng. Tôi chưa hề nghe thấy một ai dám vỗ ngực tự hào về tài lèo lái con tàu đến đất liền bình an. Nếu không nói hai chữ “may mắn” thì ít nhất cũng thốt lên “ơn Trên”, hoặc “ông Trời ổng cho…” Trong tận đáy thâm tâm, tôi vẫn thầm thì cảm tạ Chúa đã làm phép lạ cho 163 người – trong đó có tôi – đến đất Mã an lành.
Mới đây, tôi vừa vượt qua ngã tư khi đèn xanh thì một chiếc xe vượt đèn đỏ từ bên trái phóng qua. Thật may là tôi nhìn thấy và theo phản xạ đạp thắng gấp. Tôi nghe tiếng bánh xe ma sát trên đường nhựa. Tôi ngửi cả được mùi cao su cháy khét. Chiếc xe vượt đèn đỏ vượt qua đầu mũi xe của tôi trong gang tấc. Nếu hôm đó tôi không nhìn ngang để kịp thấy chiếc xe vượt đèn đỏ thì đầu mũi xe đó đã đâm thẳng vào bên hông, chỗ tôi ngồi. Chắc chắn là lành ít dữ nhiều. Đành rằng lỗi của chiếc xe kia nhưng tính mạng của tôi thì không biết sẽ ra sao. Chết hoặc tàn phế suốt đời là điều chắc chắn.
Gần đây, tôi bắt liên lạc được bạn bè La San thời còn học ở Qui nhơn sau 40 năm dài đăng đẵng. Thương hải tang điền nên chúng tôi mất hút nhau từ dạo ấy. Cũng là sự tình cờ một người bạn lang thang trên mạng và tìm thấy trang nhà của một công ty, trên đó có ghi hình một người bạn. Từ hình phăng ra bạn, từ bạn tìm được những bạn khác và cứ thế như vết dầu loang. Sau 2 năm chúng tôi đã tìm được gần 40 đứa bạn hiện đang ở khắp nơi trên thế giới, mà phần đông sống trên khắp mọi miền đất nước, từ thành thị đến thôn quê. Thu thập tên tuổi để lập ra một danh sách vi-thư hầu liên lạc với nhau mỗi ngày, từ thăm hỏi, chia buồn, chia vui, đến chia sẻ tất cả những đề tài có thể. Có người cho là sự tình cờ hi hữu; còn riêng tôi, tôi vẫn cho đó là phép lạ.
Còn biết bao chuyện khác nữa xảy ra trong mỗi ngày. Bàn tay của Thiên Chúa âm thầm xen vào đời sống của chúng ta. Khoa học tân tiến đã mở được cánh cửa bí mật của đời sống; đời sống con người, đời sống thực vật, động vật trên rừng, dưới biển. Ngay trong thân thể chúng ta các hệ thống tuần hoàn, hệ thống tiêu hóa, hệ thống bài tiết, thần kinh, mạch máu… hoạt động nhịp nhàng để cho chúng ta sự sống. Mỗi hơi thở đều là hồng ân của Thiên Chúa. Mỗi sáng thức dậy, thấy trong người khỏe khoắn. Ăn miếng cơm thấy ngon trong vị giác. Nhìn một bông hoa biết thế nào là đẹp. Nghe một bản nhạc cảm nhận được giai điệu du dương. Đó không phải là phép lạ sao?
3. Sách Dân số chương 21:6-9 kể lại dân Do-thái bị rắn độc cắn và Giavê đã chữa thế nào. Bấy giờ Giavê cho rắn độc đến hại dân. Chúng cắn họ, khiến nhiều người Ít-ra-en phải chết. Dân đến nói với ông Mô-sê: "Chúng tôi đã phạm tội, vì đã kêu trách Giavê và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu Giavê để Người xua đuổi rắn xa chúng tôi." Ông Mô-sê khẩn cầu cho dân. Giavê liền nói với ông: "Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống." Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống.
Hình ảnh con rắn đồng treo lên một cây cột để ai bị rắn cắn nhìn lên sẽ được sống chính là hình ảnh của Đức Giêsu bị treo trên cây thập giá để cứu chúng ta thoát khỏi ách tội lỗi. Chỉ hơn tuần nữa, chúng ta lại bước vào mùa Chay, một dịp để suy gẫm cái chết của Đức Kitô. Nếu ngày xưa trong sa mạc bất cứ ai nhìn lên sẽ được sống phần xác thì ngày nay nếu ai tin vào Đức Kitô thì sẽ được sống mãi phần hồn.
4. Sách Các Vua 2 chương 18:1-4 nói đến con rắn đồng mà Mô-sê đã dựng lên trong sa mạc chữa rắn độc cắn. Thời đó, dân Do-thái luôn thờ các loại thần và điều này đã từng làm Giavê nổi giận. Ngài đã nhắc nhở dân riêng ngay từ thời tổ phụ Abraham là không được thờ bất cứ một thần nào ngoài Đức Giavê. Để nhớ lại con rắn đồng đã cứu sống dân Do-thái, họ dựng lại con rắn rồi dần dần thờ cúng con rắn như một vị thần. Năm thứ ba triều vua Hô-sê, con ông Ê-la, vua Ít-ra-en, con vua A-khát, vua Giu-đa, là Khít-ki-gia lên làm vua. Khi lên ngôi, vua được hai mươi lăm tuổi và trị vì hai mươi chín năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-vi, con gái ông Dơ-khác-gia. Vua đã làm điều ngay chính trước mắt Giavê, đúng như vua Đa-vít, tổ phụ vua đã làm. Chính vua đã dẹp các tế đàn ở nơi cao, đập bể các trụ đá, bổ các cột thờ và đập tan con rắn đồng ông Mô-sê đã làm, vì cho đến thời đó, con cái Ít-ra-en vẫn đốt hương kính nó; người ta gọi nó là Nơ-khút-tan.
Tục thờ kính ngẫu tượng bắt nguồn từ thuở xa xưa, khi con người không giải thích được những hiện tượng thiên nhiên. Thấy sấm sét nổ vang trời thì thờ thần sấm. Thấy cọp bắt gia súc thì thờ thần cọp. Thấy rắn cắn chết người thì thờ thần rắn. Dân Do-thái thời Mô-sê cũng không thuộc ngoại lệ. Họ thờ bò vàng rồi đến rắn đồng. Mãi đến thời vua Khít-ki-gia con rắn đồng mới bị đập nát theo lệnh vua.
Ngày nay, trí hiểu biết của con người được nâng cao nên tục thờ các ngẫu tượng dần dần biến mất. Nhưng con người lại bị cuốn hút vào những ngẫu tượng khác và tôn sùng chúng không khác gì những người thời xa xưa.
Lúc tôi còn đi học, có quen một anh chàng. Anh ta bảo mỗi buổi sáng sau khi thức dậy điều làm anh băn khoăn nhất là làm thế nào để kiếm ra tiền, thật nhiều tiền. Anh ta có gia đình, vừa đi làm vừa đi học. Công việc toàn thời gian của anh bắt đầu từ 4 giờ chiều kéo dài đến quá nửa đêm. Về nhà ngủ chừng vài tiếng lại phải thức dậy để có mặt lúc 6 giờ sáng tại một hãng khác với công việc bán thời gian. Làm chừng 4 tiếng, anh lại tất tả chạy đến trường để vào lớp. Cuối tuần anh lại làm thêm dịch vụ địa ốc. Cả hai ngày thứ bảy và chủ nhật anh chạy ngược xuôi để đưa khách đi xem nhà, mua nhà, và bán nhà. Giữa thập niên 80, anh ta khoe mỗi tháng anh kiếm không dưới 5 nghìn đô. Trong khi tôi đang đi học, mỗi tháng làm việc trong trường kiếm được vài trăm là mừng lắm rồi. Số tiền 5 nghìn thời đó phải là một gia tài nhỏ. Thế mà anh vẫn quay quắt trong việc kiếm tiền. Anh đổi hãng luôn để được tăng lương. Anh bỏ hết thì giờ vào việc kiếm tiền. Tôi nhớ có lần anh tâm sự, một ngày trong đời mà không làm ra tiền thì chẳng thà anh chết đi còn hơn.
Những người say mê kiếm tiền như thế vô tình đã tôn thờ một ngẫu tượng mới: tiền bạc. Họ xem đó là cứu cánh của cuộc đời. Họ để tiền bạc chi phối hết tất cả mọi suy nghĩ và hành động của họ. Thời gian dành cho việc kiếm tiền nhiều đến thế, thế còn thời giờ nào cho vợ, cho con cái, cho cộng đồng, hoặ cho xã hội? Tôi tin chắc anh ta không thể nào nhìn thấy vẻ đẹp tinh khiết của thiên nhiên, không bao giờ có thì giờ cầm lấy một cuốn sách để đọc, để thưởng thức một áng văn trau chuốt, nhưng vần thơ óng mượt, hoặc nghe một điệu nhạc du dương.
Còn những ngẫu tượng khác mà con người trong thời đại này cũng tôn thờ một cách thành kính. Danh vọng và sắc dục. Ít có ai hiểu được như cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao. Một điều mỉa mai là họ không hề biết họ đang là nô lệ cho danh và sắc, như anh chàng kể trên đang làm nô lệ cho đồng tiền. Họ nghĩ phải khôn ngoan mới leo lên đến tột đỉnh của danh, phải giỏi giang mới kiếm được nhiều tiền, phải khéo léo mới mồi chài được phụ nữ.
Đạt đến tột đỉnh của danh chưa chắn được người ta trọng. Tiền bạc nứt khố đổ vách chưa chắc được người ta phục. Và chinh phục sắc chưa chắc được người ta thương. Chung cuộc, vấn đề nằm ở chính quan niệm sống của mỗi người. Và nên sống thế nào để người đời nể phục, kính trọng, và yêu thương.
5. Thánh vịnh chương 140:2-4 nói đến hạng người gian ác, miệng lưỡi như rắn độc. Lạy Chúa, xin cứu con khỏi người gian ác, giữ gìn con khỏi kẻ bạo tàn. Lòng chúng bày chước độc mưu thâm, cả ngày chỉ biết gây xung đột. Chúng mài lưỡi nhọn như lưỡi rắn, chứa đầy mồm nọc độc hổ mang.
Lời ăn tiếng nói trong đời sống hằng ngày đôi lúc nghe như lưỡi dao đâm. Nếu không khéo, lời nói gây tai hại vô cùng. Bà cụ tôi lúc mới sang Mỹ, gặp đứa cháu gái vội hỏi, sao cháu mập quá vậy? Ở VN hỏi một câu như thế có thể không sao, nhưng ở xã hội Âu-Mỹ, tĩnh từ “mập” nghe như chưởi xéo. Con bé cả năm tránh mặt bà ngoại. Phải giải thích cho nó hiểu sự vô tình của bà và mãi về sau nó mới vui vẻ trở lại.
Nhưng xã hội vẫn có người cố ý “đâm bị thóc, thọc bị gạo”. Họ khuấy động cộng đồng. Họ la ó ồn ào và nói lời nào nghe như búa bổ vào đầu. Cứ nhớ câu tục ngữ, “lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” mà ứng dụng vào cuộc sống thì hay biết bao nhiêu.
6. Sách Tiên tri Isiaia chương 11:6-9, 65:25 nói đến ước mơ khi mọi người đều biết kính sợ Thiên Chúa. Lúc đó, “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển.” Một thuở thanh bình, khi mà “Sói với chiên con sẽ cùng nhau ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò, còn rắn sẽ lấy bụi đất làm lương thực. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta." Đức Chúa phán như vậy.”
Viễn ảnh của một thiên đường hạ giới. Thời mới di cư vào Nam, tôi còn nhỏ và nhớ rõ như in ban đêm nhà tôi không cần phải cửa đóng then cài chằng chịt. Cũng khóa cửa đấy nhưng gọi là khóa cho có vì. Thuở ấy thanh bình biết bao nhiêu. Ban đêm nhà nào cũng thắp đèn dầu nhưng lại có ánh trăng hắt qua khung cửa sổ. Những đêm trăng sáng vằng vặc bọn con nít tôi có biết bao là trò chơi. Tôi may mắn lớn lên trong khung cảnh thanh bình ấy được khá lâu, và bây giờ trong trí nhớ vẫn còn in đậm nét hình ảnh của một tuổi thơ an bình, hồn nhiên và trong sáng như ánh trăng rằm thuở ấy.
Khi con người mở rộng tấm lòng với tha nhân là lúc beo nằm bên con dê nhỏ. Nếu con người biết chia sẻ với những ai kém may mắn là lúc bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục. Ước mơ của tiên tri Isaia không xa hiện thực lắm đâu nếu con người đối xử với nhau chân tình với lòng vị tha.
7. Matthêu chương 10:16 nói đến lời khuyên của Đức Giêsu khi Ngài sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng. Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.
Ra đi với nhiệm vụ làm Muối, Men, và Ánh sáng cho đời, mỗi người phải biết sống đơn sơ như bồ câu nhưng đồng thời phải khôn ngoan như con rắn trước cạm bẫy của đời. Bồ câu là biểu tượng của hòa bình, của an lành. Với tấm lòng đơn sơ, đừng với lòng dạ rắn độc, thì sẽ có nhiều bạn, ít thù. Trước cạm bẫy, phải tỉnh táo để nhìn cho tỏ tường, đừng lấy tấm lòng đơn sơ mà nhìn cạm bẫy nhưng phải khôn ngoan để tránh. Thế gian đầy dẫy những sự dữ, nhưng chúng ta phải sống giữa sự dữ như chiên đi vào giữa bầy sói. Thi sĩ John Donne nói, “Không ai là một hòn đảo” vì suy nghĩ, cử chỉ, và hành động của mỗi người, dù muốn hay không, đều ảnh hưởng đến người thân, họ hàng, bạn bè và cả những người không quen biết. Nếu thế, nên cư xử với nhau như bồ câu, và nên tinh khôn như rắn trước cạm bẫy của đời.
Ước gì năm con Rắn mỗi người chúng ta rút tỉa được một vài tinh hoa từ Kinh thánh để áp dụng vào cuộc sống.
Mong lắm thay!
Hạ Ngôn