alt
Hải đồ vùng biển Caribbean

Tùng xoay nhẹ bánh lái dẫn chiếc thuyền đôi (catamaran: một loại du thuyền ghép đôi), mang tên Zombie Jamboree – dài gần 13m luồn lách giữa vùng đá san hô mọc ngầm lởm chởm. Bầu trời lấm tấm những vì sao trông như nạm kim cương nhưng vẫn không đủ sáng để thấy rõ mặt người. Nhờ máy dò độ sâu và kiếng hồng ngoại, chàng khéo léo đưa thuyền lướt nhẹ trên mặt biển phẳng êm như một tờ giấy. Tùng liếc mắt vào chiếc đồng hồ nạm lân tinh treo ở cổ tay trái: 5 giờ 42 sáng. Vẫn còn 40 phút nữa ánh bình minh đầu tiên mới ló dạng. Tuyệt! y boong theo kế hoạch, chàng lẩm bẩm.

Gã đàn ông – Diego – đang đứng với chàng trong phòng lái, hỏi:

- Giờ giấc thế nào?

Giọng hứng khởi, Tùng đáp:

- Đúng phóc!

Giọng gã dấm dẳn:

- Phải vậy mới được.

Tùng im lặng. Chàng không thích cái giọng trịch thượng của gã cứ như bố nói với con không bằng. Khởi hành từ sẩm tối hôm qua, vừa ra khơi thì gió Đông Bắc thổi mạnh nên nửa quãng đường đầu thật khổ sở. May là từ nửa khuya biển lặng như tờ nên chàng mới tăng tốc độ tối đa để nuốt nửa đoạn đường còn lại. Chàng phải vận dụng hết khả năng hiểu biết vùng biển để đưa con thuyền đến nơi đúng giờ như dự tính. Đúng ra, gã phải cám ơn Tùng. Đằng này, gã gằn giọng như muốn ném từng chữ vào mặt chàng. Thoạt nghe, Tùng chợt có cảm giác như gã muốn dằn mặt chàng thì phải. Đèn trong phòng lái phải tắt hết để giữ bí mật, hơn nữa gã đứng cách Tùng hơn sải tay nên chàng không đọc được những gì hiện trên khuôn mặt gã.

Tùng định hỏi ngược, “Nếu không thì sao?” nhưng chỉ một thoáng chàng đổi ý nói với giọng ráo hoảnh:

- Này, ông bạn. Ông tìm đến tôi chứ tôi chẳng tìm đến ông nhé!

Chàng nhìn vào máy định vị (GPS) để xác định điểm đứng lần cuối rồi tắt máy. Giòng thủy triều sẽ đưa con thuyền trôi dần đến bãi.

- Chừng 12 phút nữa sẽ đến bờ biển Labadee.

Bãi biển Labadee của tư nhân nằm lọt thỏm trong vịnh phía bắc quốc gia Haiti, thuộc Trung Mỹ. Hãng du thuyền Caribbean sở hữu nguyên cả vịnh, bãi biển và những khách sạn đồ sộ nằm san sát trên bãi đều như lát gạch. Cả một bãi biển rộng lớn vẫn vắng ngắt mãi cho đến thứ Năm khi du thuyền đổ hàng nghìn du khách lên bờ. Hôm nay mới thứ Ba nên không thấy một bóng người nào lảng vảng trên bãi, nhất là vào lúc tờ mờ sáng như hôm nay.

Thuyền vẫn trôi lừ đừ. Cả hai im lặng theo đuổi một ý nghĩ riêng. Tùng ngậm tăm, không buồn gợi chuyện. Khi bãi biển thấp thoáng hiện ra trong tầm mắt, gã mới cất tiếng:

- Chỗ này lội vào bờ được chưa?

- Chờ chút.

Chàng rà thuyền cách bờ chừng 10m.

- Khoảng này mực nước chỉ ngang tầm ngực. Dòng thủy triều ở phía sau nên ông lội bộ vào bãi dễ dàng.

Tùng dẫn gã về phía đuôi thuyền. Lúc đó đã 6 giờ sáng. Hai bên đuôi thuyền có những bậc thang nửa nổi nửa chìm xuống nước. Chàng cầm theo chiếc đèn pin to có quai xách, mặt kiếng màu đỏ để giảm cường độ sáng. Diego cầm nơi tay chiếc cặp (Pelican case) màu đen dài cỡ 50cm, trông to lớn và dày hơn chiếc cặp da đựng máy tính loại 17 phân tây. Vỏ của loại cặp đặc biệt này làm bằng một hỗn hợp chất dẻo nhẹ như bấc nhưng đủ bền bỉ để chống sự va chạm mạnh nhằm bảo vệ đồ vật bên trong. Hai ổ khóa cài vuông vức bằng sắt nổi cộm hai bên. Quai xách cũng bằng nhựa dẻo, to bản vừa vặn với bàn tay hộ pháp của gã. Với kinh nghiệm nhiều năm trong đội biệt hải (S.E.A.L.), chỉ cần nhìn thoáng chàng biết ngay loại cặp này rất chắc chắn, bền dẻo. Chẳng biết đựng gì bên trong nhưng gã khư khư giữ chặt như một bảo vật.

Diego, tên của gã, đứng một chân ở bậc thang chìm xuống nước, ngước mắt nhìn chàng.

- Ông nhớ những điều tôi dặn chứ?

Tùng cười nửa miệng:

- Ông đừng lo cho tôi.

Trời tờ mờ sáng nên chàng đọc thấy sự khinh khỉnh trên khuôn mặt gã. Nét mặt gã biểu lộ sự khinh bỉ của một tên trọc phú đối với đám thường dân.

- Tôi nhắc lại, ông có nhớ những điều tôi dặn không?

Nghe đến đó, Tùng chỉ muốn tống cho gã một đạp ngã xuống nước rồi muốn ra sao thì ra. Gã làm như chàng là trẻ con không bằng. Có vài chuyện con con mà gã nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần. Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên, nhìn dáng điệu gã chàng đã không thích rồi. Lối nói chuyện, cách cư xử gã luôn tự đặt gã ở một vị trí cao chót vót như ông chủ đang giao việc cho người làm công. Đành rằng gã thuê mướn chàng, nhưng không hẳn cứ bỏ tiền ra rồi gã có quyền xem chàng như cỏ rác. Gã cần dịch vụ chở mướn, và chỉ vì miếng cơm manh áo nên Tùng bằng lòng chở thuê, thế thôi. Cả hai bên cùng có lợi, chẳng ai hơn ai. Chàng nén giận, giọng hòa hoãn:

- Tôi đã bảo ông đừng lo cho tôi. Tôi biết phải làm gì.

Gã gầm gừ trong cổ họng:

- Sao không lo. Tất cả diễn tiến đều nằm trong kế hoạch, chỉ có ông là nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Tôi biết tôi không thể làm hư kế hoạch vì tôi đã tính toán mọi việc chi li đến từng giây từng phút. Từng bước trong toàn bộ kế hoạch đều được thực hiện một cách cẩn trọng. Kế hoạch tuyệt đối không có một kẽ hở nào. Kẽ hở duy nhất để có thể hỏng toàn bộ kế hoạch chính là ông. Vậy thì làm sao tôi không lo?

Tùng bình tĩnh, giọng diễu cợt:

- Cha nội lý luận tầm bậy. Nếu tôi làm hư sự thì chính ông đã làm hư sự trước vì ông không biết nhìn người nên đã thuê mướn tôi chuyên chở cho ông. Trách cái nỗi gì!

Mặt Diego đanh cứng. Tùng biết gã không thích lối lý luận của chàng. Đôi mắt gã lóe lên ánh lửa rồi tắt phụt. Gã khéo léo che dấu sự giận dữ đang réo sôi trong huyết quản. Dù sao, gã vẫn phải cần chàng trong chuyến trở về sau khi xong việc. Tùng thản nhiên nhìn gã, không tỏ vẻ nao núng một chút nào. Xong chuyến này, tiền trao cháo múc, đường ai nấy đi, có lẽ chẳng bao giờ gặp nhau nữa. Mà nếu gặp lại, chàng dứt khoát sẽ không làm thuê cho gã nữa, cho dù tiền công hậu hĩ đến thế nào cũng mặc.

Diego xoay mặt nhìn bãi biển vắng vẻ, thở một hơi dài, rồi quay sang nhìn chàng. Gã lập lại lời dặn mà chàng không nhớ lần thứ mấy nữa, ít nhất là 5, 6 lần trên đường đi, và bây giờ chàng tin là lần cuối.

- Ngay sau khi tôi rời thuyền, ông đi thẳng về hải phận Dominican ngay (một nước gần Haiti). Cứ thả neo rồi nằm lì trên thuyền, ông tha hồ muốn câu cá, bơi, lặn… muốn làm gì thì làm nhưng đừng lên bờ. Đừng nhậu nhẹt say sưa vì tôi cần ông tỉnh táo để hoàn thành phần hai của kế hoạch. Đừng phê cần sa. Cũng đừng la hét, gây náo động gây sự chú ý của mọi người. Hay nhất là ông tránh gặp bất cứ người nào dong thuyền bè qua lại; tránh hỏi chuyện, tránh trả lời. Tóm lại, ông rút vào bóng tối, hoàn toàn nằm im trong bóng tối. Đúng 11 giờ 30 khuya nay, ông có mặt ngay tại nơi này. Đúng nơi này, bãi biển Labadee. Ông hiểu ý tôi không?

Tùng dấu dịu:

- OK. Tôi hiểu, Diego.

Nâng cao chiếc đèn pin trên tay, chàng tiếp lời:

- Và tôi sẽ bật tắt ngọn đèn này ba lần, mỗi lần cách nhau ba phút. Đúng không?

Giọng Diego trầm hẳn xuống:

- Tốt. Tốt lắm.

Diego bước lùi xuống những bậc thang cuối rồi thả nhẹ người xuống nước. Chân gã chạm đáy toàn cát mịn. Mực nước mấp mé ngang ngực gã. Tay trái nắm chặt chiếc cặp nổi lềnh bềnh trước mặt, gã xoải chân bước vào bờ. Diego bước chậm, tay đẩy chiếc cặp tạo thành từng gợn sóng loang ra rồi tan biến trên mặt biển trong vắt, hiền hòa. Tiếng sóng rì rầm hôn nhẹ bờ cát trắng phau nghe mơn man như hơi thở thơm ngoan của cô gái xuân thì trong giấc ngủ ngon về sáng. Đâu đây văng vẳng tiếng nhạc bồng bềnh quyện theo gió ban mai lượn vật vờ trên mặt biển rồi tan loãng vào khoảng không gian vô tận của bầu trời Haiti. Tất cả chỉ có thế.

Không một ai trên bãi biển chứng kiến sự đột nhập lãnh thổ Haiti bất hợp pháp của gã đàn ông mang tên Diego.



Tên thật của Tùng là Thomas Bailey. Cuộc đời của Tùng bắt đầu bằng một quá khứ thương đau mà đôi lúc chàng cố quên không muốn nhớ đến. Năm 1985, cả gia đình Tùng vượt biển, gồm cha mẹ và thằng bé Tùng tròm trèm 10 tuổi. Con thuyền ra khơi từ cửa Cần giờ bình yên. Chỉ được hơn ngày, bão tố nổi lên vùi dập chiếc thuyền nan không thương tiếc. Anh tài công chống chỏi sự cuồng nộ của biển cả được gần nửa ngày thì mệt lả người. Tuy vậy, tay nắm chặt cần lái, mắt đăm đăm nhìn vào những con sóng cao nghễu nghện, chú vẫn kiên gan cố thắng thiên nhiên, vượt qua định mệnh nghiệt ngã nhất. Tất cả số phận của 214 sinh mạng đều tùy thuộc vào tài lèo lái của anh, trong đó có gia đình Tùng. Nó nằm ngất bên mẹ trên boong, mặc cho con thuyền tả tơi dưới cơn bão cấp 8. Hai mẹ con bị sóng vật vã mửa mật xanh mật vàng, mệt lả người không còn biết đến thời gian. Ba Tùng hợp lực với những thanh niên khác tát nước khỏi thuyền đến mỏi nhừ. Lâu lâu, ông leo lên boong để nhìn chừng vợ con rồi lại xuống hầm tàu tiếp tục công việc.

Nhìn con thuyền mong manh trên biển cả mênh mông nên ông chủ tàu quyết định tấp vào vịnh Thái lan để trú bão. Vừa nương theo sóng, vừa lèo lách con thuyền đến vịnh Thái lan, anh tài công thật không phụ sự tin cậy của mọi người. Khoảng gần sáng thì con tàu đã tiến gần đến đất liền, một đảo hoang thì đúng hơn. Mọi người trên tàu reo hò mừng rỡ. Có người không nén được vui mừng nhảy cẫng lên như trẻ con.

Ngay cái giây phút niềm vui chưa kịp hưởng trọn vẹn thì tai nạn xảy ra.

Tai nạn xảy ra trong chớp mắt. Anh tài công vẫn nương theo sóng tiến vào bờ. Ngồi trên thuyền, người ta lờ mờ thấy cây cối cao vút mọc san sát bên những tảng đá khổng lồ. Có người la lên, “Gắng lên một chút nữa bác tài ơi! Gần đến rồi!” Ngay lúc đó, một con sóng lớn nâng chiếc thuyền lên cao rồi ném xuống mặt biển. Sóng tung hứng chiếc thuyền nan hơn nửa ngày. Nó đã chịu đựng biết bao lần ném. Thế mà lần ném này nó ngã gục chỉ vì lao đầu vào một tảng đá ngầm. Hóa ra bờ biển lởm chởm những tảng đá ngầm nằm cách bờ biển không xa. Nếu biết thế, thuyền phải đậu xa hơn rồi thòng dây từ từ đưa người lên bờ. Lạc vào vùng biển xa lạ, chẳng ai biết sự nguy hiểm đang rình rập ở ngay bên dưới đáy thuyền. Anh tài công đã phạm một lỗi lầm sơ đẳng khi điều khiển chiếc thuyền nan. Và lỗi lầm này đã gây ra một tai nạn thương tâm, một trong những bất hạnh trong lịch sử của làn sóng người vượt biển.

Chiếc thuyền vỡ vụn ngay tích tắc va chạm đầu tiên. Có lẽ thân hình nó đã bầm dập, nứt rạn vì chịu đựng sóng gió gần cả ngày, và với tốc độ từ trên cao lao đầu vào tảng đá như thế thân thể nó tan nát từng mảnh cũng là điều dễ hiểu. Những người nằm ở đầu khoang thuyền chết tức khắc vì đầu đập vào đá. Trong một thoáng, thân hình của 214 thuyền nhân bị bắn văng tứ tung như xác pháo. Có người vùng vẫy cố ngoi lên trên mặt nước trong tuyệt vọng rồi chìm lỉm. Xác người nổi lềnh trên mặt biển. Máu loang thẫm đỏ cả một vùng. Tiếng la hét cầu cứu mất hút vào những con sóng đang gầm thét nghe thật bi ai. Không một ai trên bãi chứng kiến cảnh biển cả đang thẳng tay tàn sát từng ấy mạng người.

Những đợt sóng cao tiếp theo ném những người may mắn lên bờ, và đồng thời cuốn trôi những kẻ bất hạnh khi rút ra khơi. Thằng nhỏ không hiểu sao nó vẫn sống sót sau cái đêm oan nghiệt đó. Người ta kể, nó là một trong những người may mắn được sóng hất vào bờ. Thằng bé nằm ngất bên những xác người. Khi những người còn sống kéo hết những xác người nằm la liệt trên bờ xếp cho ngay ngắn, lúc đó người ta mới phát giác thằng nhỏ vẫn còn thoi thóp thở. Cha mẹ nó không được may mắn như thế. Biển cả đã giữ xác cha mẹ Tùng vào một ngày cuối tháng 8 năm 1985 tại vịnh Thái lan, trong số hơn 120 người bị sóng cuốn ra khơi không tìm thấy xác. Tính ra số người sống sót chưa đến năm mươi; đúng ra chỉ vỏn vẹn 47 người.

Từng ấy người dựa vào nhau tìm sự sống thêm mấy ngày thì được tàu Cao ủy Tỵ nạn LHQ tìm thấy cứu. Trong 3 ngày trên đảo hoang, đã có thêm 5 người chết vì kiệt sức. Chỉ cần cứu chậm thêm một ngày nữa thôi thì có thể chẳng còn ai sống sót. Vậy mà thằng nhỏ Tùng vẫn sống. Có điều nó phải nằm bệnh viện hơn tháng mới hồi phục. Nó không nhớ gì về chuyến hải hành. Nó chỉ nhớ lúc bước xuống thuyền với ba mẹ, rồi mấy ngày sống vật vờ trên đảo và thời gian điều trị tại bệnh viện. Những chi tiết như hơn hai ngày lênh đênh trên biển, cơn bão cấp 8, những tảng đá ngầm hoàn toàn không nằm trong trí nhớ của nó.

Bơ vơ sống nhờ ở trại tỵ nạn chừng 3 tháng thì Tùng được ông bà Bailey bảo lãnh đến Mỹ theo diện con nuôi. Ông bà Bailey đặt tên cho thằng nhỏ là Tom – Thomas Bailey – nhưng nó vẫn bảo bạn bè tên cúng cơm của nó là Tùng. Mồ côi ở với cha mẹ nuôi làm thằng nhỏ sống co rúm trong một thế giới lạ lẫm. Chỉ cần một năm sau, với sự thương yêu hết mực của ông bà Bailey, thằng bé lấy lại tuổi hồn nhiên và lớn lên ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành, thật không phụ lòng cha mẹ nuôi. Ông bà Bailey hãnh diện khi nhìn đứa con nuôi èo uột nhận về từ trại tỵ nạn nay đã trở thành một chàng thanh niên cao 6’0, nặng 167 cân, trông lực lưỡng như một lực sĩ nhà nghề. Nhưng điều làm ông bà hạnh phúc nhất là tấm lòng hiếu thảo của chàng. Tùng chưa hề làm phật lòng cha mẹ nuôi một điều gì trong suốt từng ấy năm làm con. Ông bà lấy nhau bao nhiêu năm chẳng có một mụn con, khi về già lại nuôi dưỡng được một đứa con trưởng thành, nên người. Vì thế, đôi lúc ông bà nói với Tùng rằng cha mẹ có nhắm mắt ngay bây giờ cũng mãn nguyện lắm rồi.

Sau khi tốt nghiệp trung học, Tùng xin vào trường Sĩ quan Hải quân (Naval Academy) ở Annapolis. Trong thâm tâm của chàng sỹ quan Hải quân trẻ tuổi vẫn thôi thúc một đời sống hải hồ cho thỏa chí tang bồng. Vì thế, chàng bàn chuyện với ông bà Bailey và xin gia nhập đội Biệt Hải (Navy S.E.A.L.), một ngành đòi hỏi tuyển sinh phải có một thể lực vững chắc và ý chí sắt đá. Trong những tuần huấn luyện, thỉnh thoảng Tùng nhớ lại lần sống sót tại bờ biển ở vịnh Thái lan. Chàng nhớ mang mang lúc thuyền vỡ, luồng nước lạnh làm Tùng choàng tỉnh khi thân hình còm cõi của nó vừa chìm xuống nước. Chung quanh Tùng chỉ là một màu xanh thẫm, toàn nước là nước. Tùng ngộp thở, cố ngoi lên nhưng sức nước đè nặng lên người thằng bé 10 tuổi. Bỗng Tùng thấy người nhẹ hẳn đi, lơ lửng như mất trọng lực và ngất đi. Khi sức khỏe phục hồi, những người lớn kể lại Tùng sống sót thế nào và sau này khi lớn lên chàng tin rằng ba mẹ đã phù hộ cho đứa con. Có lẽ cơ duyên gắn liền với biển cả nên chàng xin vào ngành Hải quân chăng? Tùng không xác định được nhưng mơ ước của chàng là có những ngày nhàn hạ dong thuyền đi chu du khắp nơi trên thế giới.

Tùng tham gia vào những điệp vụ bí mật ở A-phú-hãn sau ngày 9/11, rồi Iraq năm 2003. Đến khi ông bà Bailey đột ngột qua đời chỉ cách nhau có vài tháng, Tùng rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Sau một thời gian chữa trị, Tùng chợt nhận thấy sự đam mê về những điệp vụ sinh tử đột nhiên chết hẳn. Ý chí chàng bải hoải, mệt mỏi như dây thần kinh căng thẳng sau một thời gian dài đã mất sức đàn hồi. Có thể vì cái chết của cha mẹ nuôi làm chàng chán nản, hết cảm thấy hứng thú trong cuộc sống. Cha mẹ chàng chết hơn 20 năm trước, bây giờ lại đến lượt cha mẹ nuôi. Tùng thở dài, những người thân lần lượt ra đi, bỏ lại chàng sống cô độc ở cõi đời này.

Thượng cấp khuyên chàng về với công việc ở bàn giấy. Tùng bật cười rồi xin giải ngũ. Cuộc đời của chàng ở ngoài trận tuyến, đối diện với tử thần, về bàn giấy gò bó với công việc “sáng vác ô đi tối vác về” thì chẳng thà chết còn hơn. Vả lại, thời gian phục vụ trong ngành biệt hải đã hơn 10 năm, đã đến lúc chàng nên giải nghệ là vừa.

Tùng không muốn sống trên đất liền. Tùng muốn đi thật xa, xa thành phố nơi chàng lớn lên trong tình thương bao la của ông bà Bailey. Mộng hải hồ của Tùng còn đó. Tùng gom góp số tiền để dành, cọng với tiền thừa kế từ cha mẹ nuôi, chàng mua được chiếc thuyền đôi này. Di chuyển đến vùng biển Caribbean, từ Bahamas đến Jamaica, Tùng dong thuyền khắp các vùng biển Trung Mỹ. Chiếc thuyền đôi chàng dùng chở du khách mướn ra khơi câu cá giải trí, vùng vẫy bơi lội giữa trời biển xanh ngắt, lặn săn cá ở vùng đá san hô, hoặc nằm phơi nắng nghỉ ngơi. Nhưng dịch vụ đem lại lợi nhuận cao nhất là chở người.

Như sáng nay, chàng đã chở Diego đến Haiti.

Tùng bật van dẫn không khí từ chiếc bình khí nén đến cái núm bằng cao su ngậm gọn trong miệng. Chàng kéo mặt nạ che kín hơn nửa mặt. Tùng ấn ấn lên chiếc mặt nạ và núm cao su để không khí lan đều cân bằng áp suất. Bộ đồ người nhái dính sát vào người, hai chân vịt đã xỏ vào chân. Một tay cầm cây súng bắn lao bằng khí nén áp sát vào ngực, Tùng ngã người ra qua thành thuyền và rơi tõm vào vũng nước ấm xanh ngát của vịnh Caribbean.

Vùng nước ấm ôm gọn lấy thân thể cường tráng của Tùng. Chàng thở nhịp nhàng, quẫy nhẹ chân vịt và để người chìm sâu xuống vùng đá san hô. Mỗi ngày Tùng đều bơi lặn khoảng tiếng đồng hồ, vừa thể dục, vừa săn cá tiêu khiển. Bơi lặn ở dưới nước, Tùng luôn cảm thấy một sự tự tin như những lần bơi vào vùng địch. Hơn nữa, cây súng bắn lao chàng cầm nơi tay là một tinh hoa của nền kỹ thuật săn cá, nên Tùng càng cảm thấy tự tin hơn. Cây súng chỉ nặng khoảng 2kg2, dài hơn mét, bắn bằng hơi ép. Ngọn lao làm bằng hỗn hợp nhôm có đường kính cỡ 9mm, nhẹ nhưng cứng hơn thép. Cách đầu mũi lao chừng gang tay có hai cánh xòe ra như cánh bướm. Mỗi khi lao đâm vào con mồi, hai cánh bướm này tự động bật ra gài cứng ngọn lao. Cho dù con mồi có vùng vẫy cách mấy, ngọn lao vẫn ghim vào thân thể. Tùng nổi tiếng thiện xạ khi dùng loại súng bắn lao dưới nước ngay từ lúc tham dự khóa huấn luyện đặc biệt BUD/S (Basic Underwater Demolition/SEAL) của đội biệt hải. Thời gian về sau, dày dạn trận mạc đã nâng tài bắn của chàng đạt đến trình độ gần như tuyệt hảo. Trong vòng 5m, chàng luôn luôn hạ con mồi bằng cách bắn xéo từ dưới lên trên khoảng 30 độ. Khí nén đẩy ngọn lao xé nước bắn đi vun vút cắm phập vào hàm dưới và xuyên thẳng lên óc. Thường khi bị trúng ngọn lao vào chỗ chí mạng như thế, con cá chết ngay tức khắc, không kịp quẫy đuôi. Có lần, Tùng dùng chiếc súng này bắn chết tươi một con cá mập nặng cả trăm ký.

Dưới nước, Tùng bơi như con rái cá. Biển là một thế giới riêng biệt của chàng, nơi Tùng đã lập nhiều chiến công hiển hách qua những cuộc hành quân cứu người, đột nhập, truy lùng… tất cả đều nằm trong bí mật. Sống bí mật, chết bí mật, cả chiến công cũng bí mật, không một ai hay. Những lần cảm thấy buồn bực, hay chán nản vô cớ, Tùng đều phóng xuống biển vùng vẫy một lúc. Chàng có cảm giác biển là người bạn thân thiết nhất, đang vỗ về an ủi khi Tùng bơi lặn dưới nước. Khi bơi, chàng luôn cảm thấy lòng thật bình an, mọi ưu tư lo lắng thường ngày bỗng dưng tan biến hẳn.

Vậy mà hôm nay Tùng không tìm thấy sự bình an đó. Hình ảnh gã Diego cứ lẩn quẩn trong đầu chàng. Tùng cảm thấy một điều gì không ổn trong dáng đi, lối nói chuyện của Diego. Nó không rõ nét nhưng chàng đánh hơi được một cái gì khác lạ nơi con người của gã. Bao nhiêu năm chung đụng với tử thần ở toán biệt hải, Tùng có khả năng “ngửi” được hiểm nguy. Hình như cả người chàng được gắn một loại chip cảm ứng điện tử, hễ sắp gặp nguy là chúng gửi tín hiệu khẩn cấp lên não bộ của chàng. Thường thì chàng thấy lạnh sau gáy, hoặc mồ hôi toát ướt lòng bàn tay. Tùng nhớ đến cuộc gặp gỡ hôm qua với gã, gáy rờn rợn và lòng bàn tay của chàng nhơm nhớp mồ hôi.

- Tôi không muốn ông mang con khỉ theo.

Diego chỉ tay về phía con khỉ đang ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế dài, hai tay xoắn lấy trái xoài, miệng nhai ngấu nghiến. Thấy gã chỉ chỏ ngón tay, con khỉ hiểu lầm tưởng gã muốn giựt trái xoài, nó lùi bước, hai tay thủ trái xoài sát vào ngực, miệng kêu khèn khẹt rõ to.

Mặt gã đanh lại:

- Tao lấy xoài của mày làm đếch gì…

Rồi quay sang Tùng:

- Ông thấy không? Nó ồn ào quá.

Con thuyền tròng trành vì con sóng đập vào mạn thuyền làm gã chúi người sang một bên nhưng chỉ cần một giây gã lấy lại thăng bằng ngay. Khẽ rùn người, hai bàn chân xòe ra hình cánh quạt, người gã đứng vững như trụ đồng. Nhìn cặp đùi to lớn như cột nhà, Tùng đoán gã là người chịu khó luyện tập thể dục. Không chừng gã còn am tường võ nghệ nữa kia.

Tùng ngồi xuống, gác chân lên thành thuyền:

- Con nhỏ đó hả?

Gã ngơ ngác:

- Con nhỏ nào? Tôi đang nói con khỉ chết bầm của ông…

- Thì con nhỏ ông nói to mồm đó. Tên nó là Judy. Nó không sống trên thuyền như tôi. Cứ thấy thuyền tôi cập bến là nó nhảy lên đi theo. Về đất liền nó lại nhảy xuống. Tôi không nuôi nó mà tôi cũng chẳng biết khỉ của ai…

Phất tay lia lịa, gã lắc đầu liên tục:

- Ngưng... ngưng… tôi không cần biết thêm cái đếch gì nữa. Khỉ đực, khỉ cái. Khỉ của ông, khỉ của người ta. Tôi không cần biết. Ông không được mang nó theo. Ông hiểu không?

- OK. Không mang khỉ.

Câu chuyện chỉ mới đến đó thôi Tùng đã muốn đuổi gã khỏi thuyền. Lối ăn nói kẻ cả của gã làm người dễ tính nhất phải bực mình. Việc chở thuê của Tùng không đòi hỏi chàng phải thích khách hàng. Trong quá khứ, Tùng đã gặp nhiều ông khách đáng ghét nhưng không một ai đáng ghét như gã hôm nay. Hơn nữa, nói chuyện với gã, chàng cảm thấy có một cái gì đó rờn rợn, bất an.

Thường khách của Tùng là những tay giàu có, Mỹ chính gốc. Họ thường lẻn vào vùng đảo Bahamas để du hí với các cô gái địa phương và muốn giữ kín tung tích. Những xì-căng-đan về chuyện vụng trộm thường ảnh hưởng đến uy tín và công việc làm ăn của họ. Nên bằng mọi cách, họ phải tránh tai mắt của bọn nhà báo chuyên săn tin giật gân. Để chàng chở đi chở về thì mọi chuyện đều bí mật. Có những tay đưa tiền mặt vào các sòng bài, hoặc chuyển ngân vào các trương mục bí mật trên đảo. Đành rằng phải kiếm sống nhưng Tùng dứt khoát không đưa hàng lậu, nhất là bạch phiến, vũ khí, hoặc đạn được. Quá rủi ro khi di chuyển những thùng cạc-tông chẳng biết đựng gì bên trong trên hải phận quốc tế. Tàu tuần duyên hải bất ngờ kiểm tra và phát hiện một thùng đựng 50 ký hàng trắng, hoặc ba-lết chứa vài chục cây súng máy thì đời chàng tàn. Tùng cứ tự hỏi, những khẩu súng này dùng để làm gì? Để giải phóng dân chúng khỏi ách độc tài hay là dùng súng để uy hiếp bắt người ta làm nô lệ? Thuốc trắng để cung phụng cho những tên nhà giàu thừa tiền, hay làm cho tình trạng xã hội tồi tệ thêm? Chàng không kiếm được câu trả lời cho những thắc mắc đó. Tùng không muốn dây dưa với pháp luật. Hơn nữa, chàng nhận định được việc nào đúng, việc nào sai với lương tâm. Và cho dù trả tiền công thật hậu, chàng cũng không bao giờ nhận việc. Hay nhất, đối với Tùng, là dứt khoát không bao giờ chở hàng quốc cấm.

Chàng chỉ chở người. Chở người dễ hơn, đỡ nhức đầu, mặc dù chuyện họ bồ bịch lăng nhăng hoặc chuyển tiền mặt vào các trương mục kín cũng chẳng hay ho gì, nhưng đó là việc của họ. Chàng không đủ thẩm quyền để phán đoán việc làm của kẻ khác. Nhưng chở người lại đụng một vấn đề nhức nhối khác là có thể chở lầm bọn khủng bố. Tùng tin vào đôi mắt lão luyện nhìn người của chàng; kinh nghiệm trận mạc giúp Tùng thấy được những cử chỉ khả nghi. Chàng không thể chấp nhận bọn khủng bố giết hại dân lành vô tội, nhất là sau ngày đau thương 11/9 với gần ba nghìn người chết thảm. Tuy vậy, Tùng biết thế nào có ngày chàng cũng chở lầm một tên khủng bố nào đó, vì kinh nghiệm vẫn có lúc phán đoán sai, nhìn trật người. Và chiến công của tên khủng bố sẽ là bản án lương tâm của chàng.

Muốn yên ổn lương tâm, sớm muộn gì chàng phải giải nghệ. Đường đời chàng còn dài, giải nghệ rồi sẽ làm gì để sống. Tùng thấy chàng cần một số tiền dự trữ để khởi sự một công việc làm ăn mới, chẳng hạn như mở một tiệm chuyên bán đồ lặn cho du khách. Tùng chỉ cần mướn hai thanh niên nhanh nhẹn, tháo vát trông coi cửa tiệm, còn chàng vẫn dùng chiếc thuyền đôi để chuyên chở du khách ra khơi giải trí. Nếu còn tiền, Tùng sẽ mua lại vài chiếc thuyền đôi cũ, sơn sửa rồi mở công ty làm ăn lớn. Chàng cũng nhắm được một địa điểm lý tưởng, nước Barbados, nằm phía dưới Nam Mỹ, với khí hậu tốt, kinh tế khá phồn thịnh, và tình hình chính trị tương đối ổn định. Tùng tính nhẩm cứ đưa du khách ra khơi câu cá giải trí thì phải cần ít nhất chục năm mới đủ vốn để mở cửa tiệm, nhưng nếu chở người cỡ như gã Diego thì chừng vài ba năm là đủ để chàng giải nghệ. Tùng mới ba mươi lăm. Mong giải nghệ lúc gần bốn mươi, không chừng chàng may mắn lại gặp được người vừa ý, lập gia đình rồi có con… Còn ước mơ gì hơn!

Hmm… hôm nay bỗng dưng Tùng mơ mộng nhiều quá. Nhưng chàng cũng chỉ mơ đến đó vì hình ảnh của Diego lại trở về lởn vởn trong trí. Lần này hình ảnh của gã đậm nét hơn, thôi thúc Tùng suy nghĩ thật lung về gã.

Tùng không tin Diego là tên thật của gã. Diego, tên nghe hao hao như xuất phát từ vùng Nam Mỹ, thuộc địa của Tây-ban-nha trước đây. Vùng này nằm gần đường xích đạo nên thổ dân có nước da đen sạm. Nước da gã cũng ngăm ngăm nhưng nhìn kỹ thì không phải màu da bẩm sinh mà là do phơi nắng. Có thể gã cố ý phơi nắng cho nước da đổi ra màu bánh mật để dùng tên Diego cho hợp lý. Cách phát âm của gã nghe Mỹ lắm. Tùng đoán già đoán non gã phải là dân Mỹ chính gốc.

Chàng nghĩ Diego chẳng thuộc nhóm khủng bố nhưng theo cách cách ăn mặc thì gã cũng không phải tay ăn chơi sành sõi, hoặc một tên công tử đem tiền mặt đi mở trương mục kín. Những tay playboy thường ăn mặc đỏm dáng, còn những tay đem tiền gửi ngân hàng trốn thuế thì ăn mặc bảnh bao, riêng gã lại ăn mặc bình thường như chàng.

Vị trí địa lý đặc biệt của những nước Bahamas, Cộng hòa Dominican, Haiti, và Jamaica nằm lọt thỏm giữa Bắc Đại tây dương và biển Caribbean, nơi có hàng nghìn dặm bờ biển trắng phau là điểm thu hút du khách nườm nượp kéo đến hàng năm. Nhưng đồng thời cũng là địa điểm ăn chơi du hí của những tay nhà giàu chơi trống bỏi, những tên buôn hàng lậu, thuốc trắng, dân mafia… Nói chung, những kẻ có tiền muốn được chiều chuộng, cung phụng. Con gái ở vùng Cabibbean lớn lên giữa trời biển bao la, bơi lội thường xuyên nên thân hình mịn màng và bốc lửa. Tấm thân nẩy nở, không chút mỡ thừa trông càng bốc lửa với chiếc áo tắm hai mảnh nhỏ xíu cỡ bàn tay. Họ có quan niệm khá phóng khoáng về tình dục. Bởi vậy những kẻ có tiền, thường đến Caribbean giải trí. Hào phóng hơn, họ bao nhân tình nhân ngãi, lâu lâu tạt ngang nghỉ ngơi vài ngày rũ sạch ưu tư bên tấm thân nóng bỏng. Vì thế tiền bạc phải chi, phải mở trương mục ở ngân hàng địa phương. Nhìn Diego không thuộc hạng người này, hạng người ăn chơi hưởng thụ.

Những tên buôn bán thuốc trắng, đường dây từ Colombia, chuyển đến Mỹ cũng lẩn quẩn ở vùng Caribbean. Bọn chúng rửa tiền bằng cách mở các trương mục kín để ký thác. Nơi ký thác lý tưởng nhất nằm trên quần đảo Cayman. Hệ thống ngân hàng ở đây bí mật không thua gì ngân hàng Thụy sĩ. Họ bảo vệ tối đa căn cước của thân chủ. Hầu như tiền bạc lưu thông ở các nước quanh vùng Caribbean đều nhờ vào hệ thống ngân hàng ở quần đảo Cayman. Trông gã chẳng giống những kẻ rửa tiền trốn thuế, lén lút đến Caribbean để ký thác tiền.

Thế thì gã thuộc hạng người nào? Hôm qua, lúc gã đến gặp chàng bàn chuyện, qua vài ba câu mở đầu, linh tính đã réo từng hồi chuông báo động trong đầu, nhưng chàng cũng chẳng tìm được một dấu hiệu gì khả nghi. Chở gã từ bến Flying Fish Marina ở Clarence Town lúc sẩm tối hôm qua, thả gã ở bãi Labadee trước lúc mặt trời mọc vào hôm sau, rồi khuya nay trở lại chỗ cũ đón gã, trả về lại Clarence Town. Công việc chở người đơn giản như những lần trước. Và tiền công thì hậu hĩ không thể tưởng được. Mười nghìn đô la, đưa trước một nửa. Tiền mặt. Tiền xăng nhớt tính riêng. Với số tiền tươi như thế, Tùng không còn lý do gì để từ chối gã.

Chỉ một điều Tùng biết chắc gã là người khó chơi. Một kẻ nguy hiểm. Gã cao hơn chàng gần một cái đầu, thân hình lực lưỡng không kém Tùng. Ánh mắt của gã mới đáng sợ, nó tóe lên ánh lửa. Những kẻ yếu bóng vía gặp gã chắc chắn phải bị khuất phục vì dáng vẻ bên ngoài. Nhưng đối với Tùng, gã cũng chỉ là một trong những kẻ đáng gờm mà chàng đã gặp đâu đó trong thời gian phục vụ ở đội biệt hải.

Tuy vậy, chàng tự nhủ phải cảnh giác tối đa khi gặp lại gã khuya nay.

( còn 1 kỳ )

 Hải Ngữ
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.