Chuông điện thoại bất chợt ré lên làm Uyên giật mình. Nàng đang ngồi trầm ngâm trước máy vi-tính, thả dòng tư tưởng trôi theo ý nghĩ miên man về cuộc tình giữa Uyên và Huy. Cuộc tình có nhiều nhức nhối mà Uyên đang hứng chịu, cuộc chia tay đã xảy ra hơn ba tháng trước. Uyên không biết tại tính nàng ương ngạnh hay tại Huy là người chồng bất tài. Sự chia tay thật sự Uyên không muốn nhưng con tim nàng gần như nguội lạnh trước tình yêu của Huy. Cái háo hức thuở mới yêu nhau đã phai nhạt sao mau chóng thế, Uyên nghĩ thầm. Cơ duyên yêu nhau bây giờ chỉ còn là nợ nần buông xuôi tất cả.

Tiếng điện thoại vẫn réo lên ngằn ngặt. Uyên uể oải đi đến giá điện thoại, cầm ống nghe:

- Hello!

- Xin cho tôi gặp cô Uyên.

Giọng người đàn ông Mỹ bên kia đầu dây Uyên nghe rất lạ. Độ rày mấy tay chào hàng gọi khách thường xuyên, hễ Uyên thấy số lạ hiện trên máy là cúp, hoặc để mặc cho nó reo đến chán thì thôi. Chiều nay tâm trí đang bận rộn, nàng lại càng muốn gác điện thoại. Thế mà không hiểu sao Uyên lại vẫn tiếp chuyện, giọng hờ hững:

- Tôi đây.

- Xin tự giới thiệu với cô, tôi là luật sư Morgan. Thân chủ của tôi là ông Lai Trần đã qua đời tuần qua. Tôi muốn báo cho cô biết…

Uyên bỗng tỉnh hẳn người. Nàng sửng sốt ngắt lời:

- Cái gì… ông nói cái gì?

Nàng chỉ hỏi được một câu rồi lịm người trong bàng hoàng. Bác Lai chết? Uyên không tin ở tai mình nhưng đúng là nàng nghe rõ mồn một. Vị luật sư không thể dựng một tin động trời như thế. Cái tin bác Lai chết tưởng như bị ai đánh ngay giữa đỉnh đầu, Uyên ngồi phịch xuống ghế, bàn tay nàng đè lên lồng ngực như cố giữ cho tim đập chậm lại. Có thể nào… có thể nào, nàng lẩm bẩm. Ống điện thoại nàng thả rơi đong đưa trong không khí, đôi mắt Uyên trợn trừng nhìn vào khoảng không trước mặt. Bên kia đầu dây, vị luật sự kiên nhẫn chờ đợi. Có lẽ ông cũng hiểu cái chết đột ngột của ông Lai sẽ gây kinh ngạc cho nhiều người nên ông ta rất thông cảm với tâm trạng rối bời của Uyên. Để tình huống tự nó lắng dịu, ông yên lặng như chiêm niệm nỗi đau buồn của Uyên. Còn Uyên, nàng ngồi lặng người một chốc rồi bỗng nhớ ra vị luật sư ở bên kia đầu dây. Uyên hấp tấp chồm người chụp lấy ống điện thoại:

- Hello… hello… ông còn đó không?

- Vâng, tôi vẫn còn đây.

Uyên hạ giọng:

- Xin lỗi ông. Thành thật xin lỗi ông. Tôi thật không ngờ… sao lại có thể mau đến vậy?

- Chuyện xảy ra cũng thật bất ngờ cho tôi. Thế cô muốn biết ông ta chết thế nào không?

- Vâng, xin ông.

- Như thế này, hôm thứ Năm vừa rồi tôi gọi đến cho ông Lai định hỏi một vài việc về chúc thư nhưng được bà chủ khu chung cư cho biết ông đã tạ thế vào tối chủ nhật. Ông nằm chết bình yên trên giường, trong giấc ngủ. Không ai biết cũng chẳng kẻ nào hay. Mãi chiều thứ Hai có người hàng xóm gõ cửa mới hay chuyện. Cảnh sát đã thông báo cho hai người con trai đang ở xa ngay tối hôm ấy và họ đã bay sang San Jose ngày thứ Ba. Ma chay tống táng vừa hoàn tất trưa nay. Sau khi ma chay xong, tôi có mời hai gia đình về văn phòng của tôi để đọc chúc thư của ông cụ nhưng vì có tên cô trong chúc thư nên tôi xin hoãn lại vào ngày Chủ nhật. Thế cô có thể đến văn phòng của tôi vào ngày mai lúc mười giờ sáng được không ạ?

Lại thêm một cái bất ngờ nữa. Trong chúc thư của bác Lai lại có tên nàng. Điều này hoàn toàn vượt quá dự tính của Uyên. Đành rằng mối thân tình giữa Uyên và bác Lai khá đậm nét nhưng nàng không ngờ bác lại âm thầm để tên Uyên vào chúc thư. Uyên mau mắn:

- Vâng, được chứ ông. Nhưng sao lại gấp đến vậy, thưa ông?

- Đúng ra tôi định mời hai người con trai và cô đến vào ngày thứ Hai tuần sau nhưng vì cả bầu đoàn thê tử của hai gia đình kéo sang bên này để lo ma chay cho ông cụ nên họ muốn trở về nhà càng sớm càng tốt. Thủ tục không tốn nhiều thì giờ đâu cô. Chỉ cần mọi người ký vào giấy tờ là xong. À! Cô ghi địa chỉ của tôi đi.

Uyên viết địa chỉ của văn phòng luật sư Morgan lên giấy:

- Vâng, vậy ngài mai tôi sẽ gặp ông.

- Cám ơn cô. Chào cô.

- Chào ông.

Gác ống điện thoại xong, Uyên vẫn còn bàng hoàng vì cái tin dữ. Nàng xem bác Lai như một người thân trong gia đình. Chuyện quen biết với bác thật ly kỳ, giống như duyên kỳ ngộ. Qua tiếp xúc, Uyên dần dần cảm mến bác. Hoàn cảnh cô đơn của bác Lai xem ra thật đáng thương. Mối thân tình của Uyên đối với bác ngày càng sâu đậm. Nó sâu đậm đến nỗi Uyên gần như xem bác như một người cha. Thế mà chỉ hơn tuần không gặp, bác đã hóa ra người thiên cổ.

Uyên thẫn thờ ngồi xuống ghế. Hai tay ôm lấy đầu, nàng khẽ gọi bác Lai… bác Lai ơi… sao bác bỏ cháu đi nhanh thế hở bác? Gia đình nàng tan nát, Uyên muốn nhờ bác cho một lời khuyên. Bác chỉ chuyện trò với nàng, kể lại cuộc tình ngày xưa với bác gái. Chuyện tình có nhiều nụ cười nhưng cũng không thiếu nước mắt. Bác Lai không hề cho nàng một lời khuyên nào rõ rệt nhưng lại giải bày và để cho nàng tự quyết định. Giờ đây, tình yêu của Uyên và Huy lãng đãng như nước trôi theo giòng, chỉ còn lờ mờ những đường nét mà nàng chẳng hứng thú hồi tưởng làm gì cho mệt trí.

Uyên tự hào với nhan sắc có mãnh lực làm người đối diện lắp bắp nói không thành lời. Nàng kiêu kỳ khi có nhiều người theo đuổi xin đôi bàn tay thon, trắng nuốt nổi bật giữa suối tóc đen tuyền khi Uyên đưa tay vén tóc mai làm dáng. Cuối cùng Uyên chọn Huy, một người đàn ông bình thường giữa hàng chục kẻ hơn hẳn chàng về nhiều mặt, từ tiền tài đến danh vọng. Không hiểu sao số phận Uyên lại dính chặt lấy Huy. Duyên số chăng? Khi yêu nhau và cùng nhìn về một hướng thì không sao, đến khi đụng chuyện nhìn vào nhau chợt thấy người phối ngẫu có quá nhiều khuyết điểm. Chỉ một câu nói của Uyên khiến Huy tự ái bỏ đi. Chàng buồn rầu nhìn Uyên nói, nếu em thấy anh vô dụng bất tài thì chi bằng chúng ta chia tay thì hơn…

Hạnh phúc gia đình bất ngờ lạc mất giữa giòng đời có quá nhiều tính toán hơn thiệt. Uyên tự an ủi bám víu lấy hạnh phúc với tâm tình của một người con đối với bác Lai. Rồi bỗng chốc, hạnh phúc của tình phụ tử cũng loãng tan như sương khói. Uyên bâng khuâng ngồi nhìn sương chiều dưới thung lũng đùn lên phủ kín ngôi nhà nằm ngang lưng đồi che khuất tầm mắt. Nàng chợt thấy đáy tận cùng của cuộc đời sâu thẳm kết tụ toàn những mất mát và khổ đau.

Trong cảm giác cô đơn cùng cực, Uyên bật khóc. Chỉ thoáng chốc, nước mắt nàng đã ràn rụa trên đôi má…

* * *

Buổi chiều xe cộ tràn ngập trên khắp đường phố. Ai ai cũng hối hả trở về nhà sau tám tiếng miệt mài trong công sở. Uyên biết Huy cũng hối hả như nàng trở về căn nhà ấm cúng, tổ ấm của hai vợ chồng. Uyên dừng xe ở ngã ba trước nghĩa địa Oak Hill chờ đèn xanh. Tuyến đường về nhà Uyên chạy không nhất định, nhưng nàng thích con đường này quặt sang Tully rồi kiếm đường chạy lên đồi vùng Evergreen, nơi ngôi nhà nguy nga mỗi ngày chào đón vợ chồng nàng. Lý do duy nhất Uyên lái xe ngang nghĩa địa này chỉ vì đó là nơi yên giấc ngàn thu của mẹ nàng. Mỗi lần chờ đèn xanh, mắt Uyên nhìn sâu qua cánh cổng sắt, mường tượng đến ngôi mộ trắng nằm yên dưới tàng cây. Hình hài của người mẹ trở về với tro bụi nhưng đã để lại những dấu ấn không thể phai nhòa trong tâm trí nàng. Sự hy sinh quên mình với thân phận người vợ thủy chung, lòng thương yêu vô bờ với trách nhiệm của người mẹ, Uyên yêu thương và kính trọng người mẹ đã tần tảo một đời cho nàng. Uyên nhớ lại những ngày thơ ấu theo chân mẹ đi thăm nuôi bố trong trại tù cải tạo. Trong tâm trí nàng lờ mờ hình ảnh người bố với tấm thân còm cõi, quần áo rách rưới, dáng đi dật dờ như một bóng ma. Uyên nhút nhát không dám gọi là bố. Tuổi con bé Uyên chưa ăn thôi nôi thì bố đã oằn oại vì cơn hận thù của người cọng sản. Mãi đến mấy năm sau, con bé mới lẫm đẫm theo mẹ đi thăm bố. Uyên thấy bố lạ lẫm nghĩ cũng phải. Rồi tin dữ đưa đến trong một ngày có cơn mưa bất ngờ đổ xuống thành phố. Mẹ nàng vật vã khóc thương chồng. Mấy năm hương lửa mặn nồng để lại đứa con gái giờ đã mồ côi cha. Sau này khi lớn lên Uyên nghe mẹ nói bố chết vì bị cây ngã đè ngang người khi đốn cây dựng trại, lục phủ ngũ tạng nát bét. Uyên không nhớ lắm những ngày tháng đau thương của riêng mẹ nhưng nàng lại nhớ chuyến vượt biển đầy hãi hùng. Mẹ con gần như chết lả sau mấy tuần con thuyền trôi vật vờ trên biển cả mênh mông. Đến được bến bờ tự do là một phép lạ, mẹ nàng tin như vậy. Có lúc mẹ lại bảo vong linh của bố phù trợ cho mẹ con mình, Uyên ạ! Nàng tin lắm chứ. Mối ràng buộc linh thiêng của người cha ở bên kia thế giới Uyên ấp ủ giữ mãi trong tâm tư. Tuy không biết nhiều về người bố nhưng nàng lại cảm nhận sự tức tưởi, lòng đau xót của một người bố chưa làm tròn trách nhiệm đối với con. Vì thế, Uyên chuyển hết lòng yêu thương cho mẹ. Nói sao cho hết tấm lòng của người mẹ lam lũ để nuôi Uyên thành người. Vậy mà chỉ vài năm sau khi Uyên tốt nghiệp ngành Cao học Quản trị Kinh doanh, mẹ nàng vội trở về với bố nàng để lại Uyên thật sự côi cút ở trần gian.

Mỗi chiều, khi bẻ quặt xe về hướng Tully ngang qua Oak Hill, Uyên đều nói thầm, ‘I love you, Mom’. Nàng hình dung thấy nấm mộ sơn trắng có tấm bia cao ngang nửa đầu người, bên trên khắc giòng chữ, ‘Muôn đời nhớ thương Mẹ’. Tuy công việc thật bận rộn nhưng Uyên thường đi thăm mẹ vào những ngày cuối tuần, đôi khi có cả Huy. Hôm nay, dừng xe chờ đèn xanh ở ngã ba, Uyên chợt nhớ đến mẹ. Nàng cũng giật mình vì cả mấy tuần nay quên không đi viếng mộ. Nhìn đăm đăm phía trước, Uyên chợt thấy một người đàn ông lúp xúp chạy đuổi theo chiếc xe buýt vừa chuyển bánh. Cái túi xách treo lủng lẳng trên vai đong đưa đập vào bên hông theo bước chân vội vã như ngọn roi của tên nài ngựa thúc dục con tuấn mã cố vượt đến đích. Bàn tay kia ông lại bận rộn với chiếc túi dài màu xanh tươi mà nàng đoán là chiếc ghế xếp. Cả hai cái túi vướng víu làm bước chân ông chậm hẳn lại. Nhìn tướng ông chạy lạch bạch Uyên thấy thật tội nghiệp. Ông như con ngựa đã đuối sức vì đường xa. Bàn tay ông vung vẩy trong không khí để người tài xế may ra trông thấy bóng ông trong kính chiếu hậu. Có lúc bàn tay chợt đứng khựng lại ở quãng không như tuyệt vọng buông xuôi. Bước chân ông chậm lại như chấp nhận thua cuộc, rồi chợt vùng lên với chút hơi tàn cố bắt cho kịp chiếc xe buýt. Uyên rướn người theo bước chạy của ông, một phản ứng theo quán tính với ước mong ông bắt kịp đừng trễ chuyến xe. May quá, chiếc buýt dừng lại chờ. Khi bóng ông vừa khuất sau tấm thân chiếc xe thì tiếng còi thúc dục phía sau kêu lên inh ỏi. Uyên vội đưa tay ngụ ý xin lỗi rồi nhấn ga cho xe vọt về phía trước.

Trên đường về, hình ảnh ông già chạy theo chiếc xe buýt cứ lảng vảng mãi trong tâm trí nàng. Có thể vì dáng vẻ mệt nhọc của ông, cũng có thể vì tuổi già sức yếu, không hiểu sao cái bóng dáng ấy cứ gõ khẽ vào ký ức của nàng như gợi nhớ một hình ảnh nào đó trong quá khứ. Tuy Uyên chạnh lòng khi nghĩ đến một ông già đứng bơ vơ ở trạm, mỏi mòn ngóng chờ chuyến xe càng thưa thớt khi trời đã về chiều nhưng rõ ràng từng ấy tình cảm không đủ để ám ảnh nàng trên suốt quãng đường về nhà. Mãi đến lúc quẹo trái hướng lên đồi Evergreen, Uyên chợt nhớ đến cái hình dáng ấy nàng đã gặp đôi lần trước đây khi đứng chờ đèn xanh ở ngã ba. Những lần trước, Uyên không chú ý lắm, nhưng nàng nhớ rõ ông cũng khoác chiếc áo dạ màu xám tro, cũng chiếc túi đeo lủng lẳng trên vai, cũng chiếc mũ len kép sụp che hết hai mang tai. Uyên hầu như thấy ông đứng ở trạm xe buýt vào mỗi buổi chiều. Gần như không có cư dân trên suốt một đoạn đường dài non nửa dặm của nghĩa trang nên Uyên tin chắc ông phải từ trong Oak Hill bước ra đón xe để trở về nhà. Ông gần như trung thành với giờ giấc; cũng vào giờ đó, chuyến xe đó. Những lần tan sở trễ, Uyên không thấy ông nhưng cứ vào giấc này nàng thường bắt gặp hình bóng quen thuộc của một ông già kiên trung với một người nào đó đã khuất bóng. Uyên thắc mắc không biết ông vào nghĩa địa thăm ai để mỗi buổi chiều trở ra đón chuyến xe cuối ngày.

Cả tuần, Uyên không về trên đoạn đường ngang qua nghĩa địa nữa vì nàng phải ghé chợ gần hãng mua vài thức ăn tươi. Thêm vào đó, công việc khá bận rộn nên Uyên cũng quên bẵng mất ông già. Cuối tuần đó, Uyên ghé Costco mua bó bông rồi ghé vào Oak Hill thăm mộ mẹ nàng. Huy ngủ trễ nên Uyên không buồn gọi chồng dậy để đi ra mộ với nàng.

Đường trong nghĩa địa chạy chằng chịt và thẳng góc theo hình thước thợ. Mỗi khu đất đều có bốn con đường bao bọc chung quanh, khá rộng để xe đậu dọc theo hai bên lề mà vẫn đủ chỗ cho xe cộ lưu thông. Cây cối trồng khắp nơi, tỏa bóng mát vào những buổi trưa hè nắng gắt. Không khí ở nghĩa địa nào cũng vậy, yên ắng, tĩnh mịch, lâu lâu nghe tiếng chim kêu đâu đó trên tàng cây. Không gian trầm lắng như muốn chia sẻ nỗi niềm với từng người. Mỗi lần đến thăm mộ là mỗi lần nhớ đến kỷ niệm với người đã khuất; vui có, buồn có. Người ở lại dương thế có lẽ khổ hơn những kẻ đã nằm xuống vì những kỷ niệm đầy màu sắc hằn sâu trong tâm trí. Họ phải đối diện với chúng vào những lúc rảnh rỗi, hoặc vào mỗi đêm nằm thao thức và trằn trọc khó ngủ. Người chết đã bước sang một thế giới mới, thời gian và không gian khác hẳn với thế giới này, nên có lẽ họ không bị những kỷ niệm dằn vặt, rỉa mòn ký ức đau đớn đến độ đọng thành những giọt nước mắt. Uyên cũng thế, mỗi lần đứng trước mộ mẹ nàng là nước mắt ướt mi. Ngày công thành danh toại, Uyên muốn từ đây mẹ sẽ yên vui với thành quả mẹ đã gầy dựng. Nàng sẽ phụng dưỡng mẹ với tấm lòng biết ơn của đứa con cho đến tận cuối đời người. Thế mà mẹ nàng đành đoạn đứt gánh giữa đường, tình mẫu tử chia lìa bỏ nàng mà đi. Ngày đám cưới, nhìn gia đình Huy đông đủ mà Uyên tủi thân bật thành tiếng khóc. Khách dự tiệc cứ nghĩ đó là giọt lệ thường tình trong ngày vu quy chứ đâu ngờ Uyên đang khóc thương mẹ nàng, nước mắt rơi cho thân phận côi cút mang nhiều cay đắng.

Trời đã gần trưa khi Uyên đậu xe dọc theo đường và bước về phía mộ mẹ nàng. Bóng cây che phủ gần hết nấm mộ. Tấm hình bán thân của mẹ nàng lộng trong tấm bia vẫn nhìn nàng trìu mến. Uyên nhặt những chiếc lá rơi rụng trên mộ, dọn dẹp sạch sẽ rác rưởi chung quanh. Nàng đứng lặng thinh, nén nhang trong tay lâm râm khấn vái. Bố mẹ đã gặp lại nhau nhưng con vẫn thiếu thốn tình thương của một mái ấm gia đình, Uyên ngậm ngùi nói với mẹ. Trong làn khói nhang uốn lượn vươn lên cao, hình ảnh bố mẹ hạnh phúc đang mỉm cười với nàng lung linh qua làn nước mắt. Không lần nào Uyên đến thăm mẹ mà nàng không khóc. Uyên nghĩ đến thân phận côi cút, nghĩ đến người mẹ hiền, nghĩ đến ơn phụng dưỡng chưa trả đền, từng ấy muộn phiền đủ làm ướt đôi mắt trong veo của nàng.

Uyên ngồi xuống cạnh nấm mộ, tựa lưng vào tấm bia, lẩn thẩn nghĩ đến tháng ngày mẹ con có nhau. Ôi! Sao hạnh phúc ngắn ngủi thế. Thời gian của bố mẹ cũng chỉ vọn vẹn có vài năm rồi bố Uyên chết đau đớn. Tưởng hai mẹ con sẽ sống an bình đến cuối cuộc đời chứ ngờ đâu âm dương cách trở. Ngả đầu vào tấm bia, Uyên ngửa mặt nhìn lên tàng cây. Cơn gió vờn nhẹ lọn tóc mai quấn quít hai bên má làm Uyên cảm thấy nhồn nhột. Có đôi chim sẻ ríu rít nhảy chuyền trên cành rồi biến mất vào đám lá cây dày đặc. Thời gian bỗng nhiên gần như đọng lại, Uyên lim dim đôi mắt và chợt thấy riêng một khoảnh khắc nàng ngồi bên mẹ. Uyên tưởng tượng mẹ đang ôm lấy nàng, vỗ về. Uyên chợt nghe loáng thoáng đâu đó tiếng mẹ ru nàng thuở nhỏ, “cái cò cái vạc cái nông, sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò…”. Hạnh phúc quá, mẹ ơi! Đôi mắt vẫn khép hờ ở khoảng giữa của thực tại và ký ức, Uyên lâng lâng thả hồn về lại những ngày thơ ấu, quẩn quanh bên mẹ. Nàng ngồi lặng yên, chìm hồn trong dĩ vãng và khi tỉnh giấc, đôi mắt Uyên phóng xa về phía ngọn đồi cho thoáng tầm nhìn thì bóng dáng một người đàn ông đập ngay vào thị giác nàng.

Uyên giật mình khi vừa thấy dáng người đàn ông. Ông đi bách bộ độ chừng mươi bước trở lại, đầu chúi vào cuốn sách đang cầm trên tay. Mặc chiếc áo dạ màu xám tro, đang đi ông chợt đứng lại rồi lại tiếp tục bách bộ. Bóng dáng của người đàn ông trông quen lắm và nàng chợt nhớ ra đó là ông già suýt trễ chuyến xe buýt nàng gặp vào chiều đầu tuần.

Từ chỗ mộ mẹ nàng đến chỗ ông đứng không xa lắm, Uyên nhận ra ngay ông già nhờ chiếc áo dạ. Cái dáng ông đứng Uyên không thể nào lầm được. Từng ấy thứ quen thuộc giúp nàng nhận ra ngay ông già thường đứng chờ xe buýt trước mặt nghĩa trang. Ngay khi nhận ra ông, những thắc mắc lẩn quẩn trong đầu nàng từ hôm thứ Hai lại trở về thôi thúc nàng mãnh liệt hơn bao giờ. Ông vào nghĩa địa thăm ai thường xuyên thế? Có gì quyến luyến và gắn bó đến nỗi ông chịu khó đáp xe viếng mộ đều đặn? Tình thương của Uyên đối với mẹ cao vời vợi thế mà nàng cũng chỉ đến thăm mẹ mỗi tháng vào cuối tuần. Chắc chắn ông già có giờ rảnh rỗi hơn nàng nhưng Uyên vẫn muốn biết người nằm dưới nấm mộ sâu liên hệ với ông ra sao.

Sau một lúc suy nghĩ, Uyên quyết định làm quen với ông. Nàng lái xe gần chỗ ông đứng. Đậu xe lại, Uyên thả bộ về hướng đồi, giả vờ như đang đi kiếm mộ một người quen. Thoáng một cái, ông đã ngồi xuống chiếc ghế xếp màu xanh. Nàng nhận ra chiếc ghế xếp ông cầm nơi tay khi chạy theo chiếc xe buýt. Chiếc ghế đặt gần bên ngôi mộ. Uyên thấy trên mặt mộ đặt cái bình tích, có lẽ đựng trà hay nước sôi gì đó. Chiếc túi màu xanh nhà binh đặt dựa vào tấm bia, đúng là chiếc túi ông treo trên vai. Đúng ông rồi, Uyên nghĩ thầm. Ông đặt hết tâm trí vào cuốn sách nên không hề biết Uyên đang bước đến gần. Căn cứ vào màu da, Uyên đoán ông phải là người Á-đông. Nàng chào ông bằng tiếng Anh:

- Hello sir!

Uyên chào đến lần thứ hai ông mới ngẩng đầu lên. Thấy nàng, ông gập cuốn sách lại, sửa lại dáng ngồi, mỉm cười:

- Hi!

Uyên vẫn hỏi bằng tiếng Anh:

- Tôi thăm mộ mẹ tôi đàng kia, thấy ông đứng đàng này một mình nên ghé lại hỏi thăm ông.

Nói xong, Uyên chợt cảm thấy quá đường đột. Chỉ vì những thắc mắc dằn vặt cả tuần mà Uyên phải đành liều đến làm quen với một người xa lạ. Như thế có kỳ cục không? nàng nghĩ thầm. Uyên là người dạn dĩ nhưng nàng chỉ mở miệng nói được một câu rồi ngậm tăm không biết phải nói gì thêm.

Giọng ông vui vẻ:

- Cám ơn cô.

Uyên đứng tần ngần không biết nên nói gì với ông nữa. Nàng đâm ngượng với chính mình. Ông lại lên tiếng, phát âm giọng Anh rất chuẩn:

- Thế mẹ cô mất lâu chưa?

Uyên chộp lấy câu hỏi để gỡ rối:

- Đã năm năm nay, thưa ông.

- Cô người Việt phải không?

Lại thêm một câu hỏi gỡ rối cho Uyên:

- Yes, and you are…

Ông đứng lên:

- Cũng người Việt như cô vậy.

Uyên reo lên:

- Thật không ngờ bác cũng là người Việt.

- Thì người Việt mình ở San Jose này đông quá rồi. Đi đâu mà không gặp nhau.

Tiến lại gần, Uyên thú thật:

- Lúc nãy cháu đường đột đến hỏi bác, bác thứ lỗi cho nhé.

Ông xoa tay vào nhau, cười xòa:

- Sao cô khách sáo thế. Được cô hỏi thăm là tôi vui rồi, có gì mà đường đột. Tôi đã cám ơn cô rồi, bây giờ cám ơn cô thêm lần nữa.

Giọng nói trầm ấm và thái độ thân thiện của ông làm Uyên dạn dĩ hơn. Nàng chìa tay ra:

- Cháu là Uyên, thưa bác.

Nắm lấy bàn tay Uyên, ông tự giới thiệu:

- Tôi tên Lai. À, mời cô ngồi.

Ông chìa tay chỉ vào chiếc ghế xếp màu xanh. Uyên xua tay:

- Thôi, để bác ngồi cho khỏe. Cháu đứng được rồi.

Uyên khẽ liếc mắt sang tấm bia và nàng đọc được tên của người đã khuất: Lương thị Hồng Thu, 19xx – 20xx; phía trên khắc hình thánh giá khá lớn. Nàng ngập ngừng:

- Xin lỗi bác, bác Thu là gì của bác vậy?

- Nhà tôi đó.

Uyên ngậm ngùi:

- Bác mất bác gái, còn cháu cũng mất mẹ. Nghĩ cho cùng ai cũng có một nỗi buồn.

Ông Lai cứ nài Uyên ngồi xuống ghế cho bằng được. Uyên ép ông ngồi xuống ghế còn nàng ngồi bệt xuống phía chân mộ. Ông thở dài:

- Thì ai bước vào đây mà không có một nỗi buồn nào đó! Người mất cha, kẻ mất chồng…

Rồi ông chợt trầm ngâm, yên lặng. Uyên cũng lặng im. Riêng bác mất vợ, cháu mất mẹ… nàng nghĩ thầm. Lời nhận xét của Uyên và lời đồng tình của ông vô tình đánh thức một nỗi đau mà cả hai phải cắn răng chịu đựng. Nhìn dáng ông ngồi ủ rủ, Uyên chợt chạnh lòng. Mối thương cảm như những lần nàng thấy ông đứng bơ vơ chờ xe một mình. Đoạn đường vắng bóng người nên dáng ông đứng ở bến xe buýt đập hẳn vào mắt của mọi người. Tiết thu, trời về chiều gió se lạnh, nhìn ông đứng một mình trên bến vắng, co ro trong chiếc áo dạ lòng Uyên chợt dâng lên mối cảm hoài. Chẳng biết ông có con cái gì không để ông phải nhọc nhằn thân cò thấy mà thương.

Người ông tầm thước với mái tóc cắt ngắn bạc phơ. Ông tư lự, nghĩ đến một quá khứ xa xăm nào đó và những đường rãnh sâu đậm chạy ngang trên trán làm khuôn mặt ông trở nên khó nhìn, nhưng Uyên vẫn thấy được nét hiên ngang và phải nhìn nhận ông trông khá đẹp lão. Tuổi đã cao, da đã nhăn mà ông nhìn còn có nét đến thế thì thuở thiếu thời ông phải thuộc loại điển trai.

Nàng nửa muốn đi, nửa muốn ở lại. Những thắc mắc về ông chưa được giải đáp thỏa đáng nhưng ít nhất Uyên đã biết tên vợ của ông, biết ngôi mộ ông đến thăm. Nàng nghĩ từ nay muốn gặp ông, cứ đến thẳng ngôi mộ này là xong. Uyên phá tan sự im lặng:

- Thôi, xin phép bác cháu về.

Ông Lai giật mình, giọng tỉnh táo:

- Sao cô về sớm vậy? À, tôi quên hỏi cô là mẹ cô mất lâu chưa?

- Cháu đã nói rồi. Mẹ cháu mất đã năm năm rồi bác.

- Ồ! Xin lỗi cô, độ rày trí óc tôi lúc được lúc mất, chẳng ra làm sao cả.

Ông vỗ vỗ tay lên trán, thở dài rồi đứng lên:

- Nếu bận thì cô về, còn nếu rảnh thì cô cứ ở lại đây chuyện trò cho vui. Cả ngày tôi ngồi đây chẳng có ai nên cũng buồn buồn.

Uyên không nghĩ nàng nghe lầm. Ông nói ngồi cả ngày ở đây? Nàng gặng hỏi:

- Bác nói sao? Bác ở đây từ sáng cơ à?

Ông đứng lên, vói tay lấy chiếc túi màu xanh. Mở miệng túi, ông lấy ra một hộp nhựa đựng cơm đặt lên mặt mộ. Ông lại lấy theo một hộp nhỏ, có lẽ đựng thức ăn. Vừa bày thức ăn ông vừa trả lời:

- Ừ! Cứ đến giờ nghĩa trang mở cửa là có tôi. Cô thấy đây, tôi mang theo cả cơm ăn trưa, có cả phích trà nóng. Tiếc quá, tôi uống bằng nắp phích nên không có ly mời cô.

Uyên chợt thấy cuộc đời ông hé mở một vài chi tiết thú vị. Thật không ngờ ông đến nghĩa trang từ sáng và ở lại đến chiều tối mới về. Nàng hỏi gặng:

- Bác ở đây cả ngày?

- Ừ! Cơm trưa gói theo để khỏi chạy đi chạy về.

Uyên nhìn ông Lai ngẩn ngơ. Nàng không biết nói gì hơn về tấm lòng của ông đối với vợ. Uyên cố hỏi thêm:

- Thường mấy giờ bác mới về nhà?

- Cứ gần đến giờ đóng cửa thì tôi về. Mùa hè tôi về trễ còn mùa đông thì tôi về sớm. Để đón xe buýt chứ trễ quá lại không còn chuyến.

Vẻ kinh ngạc hiện rõ trên khuôn mặt Uyên. Tuy đoán đúng nhưng khi nghe ông xác nhận ở lại nghĩa trang cả ngày nàng vẫn ngạc nhiên. Ngồi bên nấm mộ của người vợ để ôn lại kỷ niệm xưa? để sống lại một dĩ vãng đầy ắp tình yêu? Uyên tự hỏi tình yêu tuyệt vời đến độ nào để người chồng khăn gói đến ngồi tỉ tê bên mộ cả ngày. Ôi! Trên đời lại có một tình yêu tuyệt vời đến thế sao? Tình yêu của mẹ Uyên đối với bố nàng cũng tuyệt vời, cũng có nhiều gắn bó, cũng thấy thủy chung, cũng lòng son sắt nhưng nàng không dám tin bố sẽ ngồi lì bên mộ mẹ cả ngày. Thế thì bác Lai đã thấy gì ở bác gái để ngồi tỉ tê hàng giờ không biết chán?

Uyên nhìn ông Lai trìu mến:

- Thú thật với bác, cháu thấy bác nhiều lần đón xe buýt ở trước nghĩa trang. Cháu biết là bác đi thăm mộ nhưng vẫn không ngờ bác ở luôn cả ngày trong này. Thế bác đi thăm bác gái hàng tuần à?

- Ngày nào tôi cũng đi cô ạ!

Uyên trợn tròn mắt:

- Cái gì? Bác đến đây mỗi ngày?

Vẻ mặt bình thản, ông Lai gật đầu:

- Cô tính xem, ở nhà thì cũng chỉ bốn bức tường. Ra ngoài này có không khí trong lành, nghe tiếng chim hót, gió hiu hiu và đánh một giấc vào buổi trưa thì không gì bằng.

- Cháu không tin chỉ vì yêu thiên nhiên mà bác cất công đến vậy.

Vẻ vui tươi trên khuôn mặt chợt tắt phụt, ông trầm ngâm rồi thở dài:

- Cô nói đúng. Thiên nhiên chỉ là cái cớ, lý do chính là nhà tôi. Có những mất mát mà người ta không thể nào bù đắp được. Tôi may mắn có nhà tôi và rồi bất hạnh khi nhà tôi nằm xuống. Mà thôi, chuyện buồn của tôi sao lại làm phiền cô đến thế.

- Bác lại khách sáo rồi. Có gì đâu mà phiền. Nếu đã phiền cháu đã không gặp bác hỏi thăm.

- Thôi, cô ạ! Để khi khác nếu cô có thì giờ…

Lòng ông đã quyết, Uyên thấy cũng không nên ép. Vả lại, Uyên đã biết địa điểm ngôi mộ này, cũng không xa mộ của mẹ nàng. Một ngày nào rất gần, Uyên sẽ ghé thăm ông và hỏi thêm về cuộc tình của ông cũng không muộn. Nàng đứng lên:

- Thôi, để bác dùng cơm trưa. Hôm nào cháu đến thăm bác nữa.

- Cám ơn cô. Cứ đi thăm mộ mẹ cô rồi ghé sang đây. Lúc nào tôi cũng có nguyên một ngày, với cô.

Về đến nhà, Uyên kể lại chuyện bác Lai cho chồng nghe, Huy cứ hỏi gặng, “mỗi ngày? từ sáng đến chiều?”. Uyên bảo thì chính em cũng không ngờ có người lại chí tình đến vậy. Nàng nũng nịu hỏi chồng:

- Còn anh thì sao?

Huy nhướng mắt nhìn vợ:

- Sao là sao?

- Thì… nếu em chết anh có đi thăm mộ em mỗi ngày như thế không?

Huy cười phá lên:

- Thôi cưng ơi! Thực tế đi cho anh nhờ. Chuyện mình sao đi so sánh với chuyện ông Lai.

- Tuy mỗi gia đình mỗi khác nhưng vẫn giống nhau ở chỗ có chung tình hay không chứ.

Uyên hỏi rất nghiêm trang, nàng thật sự muốn biết tình yêu của Huy lớn đến đâu. Nhìn nét mặt của vợ, Huy hơi khựng người. Chàng kéo vợ ngồi xuống ghế:

- Để xem, bà Lai chết lúc 66 tuổi, anh đoán ông Lai ít nhất cũng từng ấy tuổi, đúng không? Ở tuổi gần 70, sức lực bao nhiêu nữa mà không chung thuỷ với người đã khuất?

Uyên hứ:

- Anh đừng đánh giá thấp bác Lai thế.

- Có lẽ anh hơi chủ quan nhưng em thấy anh cũng có lý chứ.

Uyên ngúng nguẩy đứng lên:

- Em có hỏi anh về chuyện sức lực đâu. Mà em nói anh nghe, thời buổi bây giờ thiếu gì ông già bảy mươi về Việt nam cưới vợ hai mươi. Bác Lai không làm thế chứng tỏ bác vẫn còn yêu vợ.

Huy vuốt ve:

- Anh hứa với em, nếu em cứ sống đến 66 tuổi đi, anh hứa sẽ đi thăm mộ em hàng… tuần, được chưa?

Uyên nguýt chồng một cái thật dài rồi ra bếp làm cơm. Nghĩ cho cùng, Huy không hẳn vô lý hoàn toàn. Đàn ông năm bảy lá gan thì cũng có năm bảy hạng người, đâu phải ai cũng có tính già chơi trống bỏi. Cho dù bác là người thuỷ chung nhưng bác vẫn không cần đến thăm mộ mỗi ngày. Phải có một cái gì mãnh liệt thôi thúc tận bên trong nên bác mới kiên tâm đội gió mưa đến ngồi bên mộ. Con tim của bác có những lý lẽ mà trí óc của Uyên không thể nào hiểu được, hoặc không một ai hiểu được.

Tuần sau đó, Uyên lại lân la đến tìm ông Lai. Vẫn bóng dáng kiên tâm như tượng đá, bác Lai ngồi thanh thản đọc sách. Vừa thoáng thấy Uyên, ông đứng bật dậy:

- À! Chào cô Uyên.

Nàng tươi cười:

- Chào bác, bác khỏe không?

Ông Lai vội khoe:

- Khỏe lắm, thấy cô tôi lại càng khỏe. Cô Uyên, tôi nhớ mang theo ly uống nước này. Cô dùng một ly cho ấm bụng nhé.

- Cám ơn bác, cháu vừa uống cà phê xong. Khi nào khát cháu sẽ xin bác.

Ông vồn vã:

- Cô ngồi xuống đây.

- Để cháu ngồi ở chân mộ được rồi. Bác cứ ngồi đó đi.

Uyên đỡ lấy tay ông Lai, đẩy ông về phía ghế. Nàng hăm hở muốn biết cuộc tình của bác Lai. Bà đã bỏ ông ra đi để lại một chuyện tình có nhiều trăng sao vẫn nằm yên trong tim mà mỗi ngày ngồi bên mộ ông có cơ may ôn lại. Quá khứ vẫn sống dậy mỗi lần ông ngồi xuống bên nấm mộ có vạt cỏ xanh rì bao quanh. Sau một lúc nói chuyện bâng quơ về thời tiết, việc làm, thời sự… Uyên mở lời:

- Bác Lai, cháu cứ thắc mắc sao bác lại chịu khó đến vậy?

- Cô nói chịu khó sao cơ?

- Thì chịu khó thăm bác gái mỗi ngày, từ sáng đến chiều. Cháu kể cho chồng cháu nghe, anh ấy cứ hỏi gặng mãi, làm như cháu bày chuyện vậy. Cháu vẫn không hiểu ngồi đây cả ngày bác làm gì cho hết giờ. Tính ra cũng bảy tám tiếng chứ ít gì.

- Tôi ngồi đọc sách. Đôi khi gặp vài trang sách kể một chuyện tình giống như của tôi, thích thú lắm chứ. Đó là lúc tôi thả hồn về lại ngày xưa, khi tôi và nhà tôi mới biết mặt nhau. Còn nếu mệt quá thì tôi đánh một giấc trên chiếc ghế này. Gió thổi hiu hiu làm một giấc thì tuyệt, cô thấy không? Chỉ tội vào mùa đông, trời quá lạnh, hoặc gặp lúc mưa tôi phải khăn gói vào trú ở căn nhà xây đàng kia (nơi có những ngôi mộ nổi). Đói thì có cơm, xôi, hoặc bánh mì. Nhiều khi tôi cũng chẳng làm gì, cứ để hồn mình lâng lâng, nghĩ lan man đến đâu hay đến đấy. Ngồi đây, bên cạnh nhà tôi là tôi thấy lòng an bình lắm, cô ạ.

Khẽ liếc nhìn tấm bia, Uyên lẩm bẩm:

- Bác gái mất đến nay cũng hơn hai năm rồi.

- Ừ! Khoảng đó, tôi cũng chẳng để ý đến ngày tháng nữa. Ngày nào tôi cũng chỉ có một chuyến xe ra mộ. Chỉ riêng ngày Chủ nhật tôi phải đáp mấy chuyến vì đi dự lễ rồi mới ghé thẳng đến đây.

Uyên lắc lắc đầu, nhìn ông thương mến. Sự kiên nhẫn và lòng thuỷ chung của ông Lại mỗi lần nghĩ đến là mỗi lần chép miệng. Hai năm là hơn bảy trăm ngày, đều đặn hơn nghìn chuyến xe buýt đi và về. Chao ơi! Uyên vẫn không thấu hiểu được một mối tình âm dương cách trở, lại gắn bó đến thế sao?

- Cháu thấy bác đứng đón xe nhiều lần nhưng vẫn không ngờ…

Ông Lai ngắt lời:

- Có gì đâu, tôi nghĩ tất cả đều do con tim của mình. Cái mất mát nó thôi thúc mình tìm cách lấp đầy. Cô có nghe câu thơ: em đi một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ?

Uyên gật đầu. Ông hớp một chút trà:

- Khi nhà tôi mất, tôi cứ nghĩ con tim tôi mất một nửa nhưng hóa ra không phải. Tôi mất nguyên cả trái tim cô ạ! Tôi nhớ sau khi chôn cất nhà tôi xong, các con tôi trở lại thành phố vì công ăn việc làm, tôi ngồi lặng lẽ trong bốn bức tường mà lòng nhức nhối không yên. Kỷ niệm in trên tường, thấy trên ghế ngồi, đậm nét trên mặt gối… nhiều quá kể không hết. Ngồi ở phòng khách mà tôi cứ thấy loáng thoáng bóng nhà tôi ở nhà bếp. Tôi bứt rứt khó chịu lắm. Cuối cùng tôi lấy buýt đi thăm nhà tôi. Ra đến đây, ngồi bên mộ tôi lại thấy lòng thật bình an, thanh thản. Thế rồi tôi sợ ở nhà, đúng ra tôi sợ kỷ niệm. Đi thăm nhà tôi mãi rồi thành quen, không đi không được.

- Có lúc nào bác ngồi nhớ lại thuở mới yêu nhau không?

Giọng ông trở nên hứng khởi:

- Nhớ chứ, nhớ như in nữa kìa. Mà có biết yêu cái quái gì đâu. Cái thời tôi không có chuyện hẹn hò như thời của cô. Cha mẹ chọn cho thì lấy. Cô không đi đạo nên không biết, nhà tôi lúc đó mới mười sáu ở trong hội đoàn Con Đức Mẹ ở nhà xứ. Hai bên đã nhận trầu cau thì xem như ván đã đóng thuyền. Biết vậy nhưng vẫn không dám nhìn mặt, chỉ dám đứng xa xa nhìn vậy thôi. Mỗi lần xong lễ, đám thanh niên bọn tôi cứ núp sau mấy cây cột trong nhà thờ để nhìn lén đám con gái. Cô biết trong nhà thờ hai phái ngồi riêng biệt; nam bên phải, nữ bên trái. Gặp mấy cô nghịch ngợm cũng nép sau mấy cây cột chỉ chỏ bàn tán. Mà lạ lắm cô ơi, đi nhà thờ mà nhìn được mặt vợ sắp cưới khi về người cứ như đi trên mây. Mà nhìn lén chứ có dám nhìn thẳng mặt đâu. Thế mà cái cảm giác lâng lâng khó tả lắm…

Uyên nghe bác Lai say sưa kể lại cái cảm giác nhìn thấy được mặt bác gái lần đầu thật ngây ngô, vụng dại. Mối tình bắt đầu thật giản dị, chỉ qua mai mối, chưa hề biết mặt nhau trước đó. Bác sôi nổi:

- Sinh hoạt họ đạo ở miền quê hay lắm kia. Không biết cô có biết cái đình làng không? Đó là nơi diễn ra tất cả mọi sinh hoạt trong làng về mặt đời. Còn nhà xứ là nơi diễn ra mọi sinh hoạt của họ đạo. Bởi vậy khi thấy mặt nhà tôi rồi, ngày nào tôi cũng siêng năng đến nhà xứ. Một ngày mà không thấy mặt nhau người lờ đờ cứ như bị ma ám cô ơi…

Uyên bật cười. Nhớ lại thời gian nàng và Huy yêu nhau. Có những sôi nổi thế không? Không gặp nhau có thấy nhớ nhung? Hình như có nhưng nàng không tin nhớ nhung ở mức độ mãnh liệt như của bác Lai.

- Có lần hai đứa tình cờ gặp nhau bên hông nhà thờ. Tôi đánh bạo nắm lấy tay của nhà tôi. Ngượng lắm kia! Ngượng nhưng lại thích, thích đến run rẩy cả người. Nhà tôi tóc dài xõa ngang lưng, áo dài trắng. Nàng bẽn lẽn cúi đầu, mặt đỏ au. Đơn giản chỉ có thế, vậy mà cái lần gặp gỡ đó mấy chục năm sau vẫn còn in đậm nét trong trí tôi…

Lối kể chuyện của bác Lai thật lôi cuốn. Giọng khoan thai, bác diễn tả từng chi tiết. Mỗi chi tiết cứ như một món ăn, bác thêm vào chút gia vị làm câu chuyện thêm đậm đà, Uyên nghe mãi không thấy chán.

- Mùi thơm ở nhà tôi đọng trên tay tôi đến mấy ngày ngửi vẫn còn thơm. Tôi không biết nói sao cho cô hiểu, nhưng mùi thơm nó lạ lắm; thoang thoảng hoa nhài cũng có, phơn phớt quỳnh nở về đêm cũng có, lại phảng phất mùi ngọc lan nữa. Trộn lẫn lại tôi không biết đích xác là gì, chỉ biết hương ở tay nhà tôi làm tôi ngây ngất đến mấy ngày.

- Thật vậy không bác. Cháu nghĩ tâm lý nhiều hơn. Thời đó, cháu nghĩ cái gì các cụ cũng cấm. Mà càng cấm càng thèm. Bởi vậy khi nắm được tay là người cứ như lên tiên.

- Cô nói cũng có lý. Nhưng nó thơm thật cô ạ! Cả mấy ngày tôi không tắm ao mà chỉ đứng tắm bên cái lu chứa nước. Xối nước từ cổ tay trở xuống chứ tuyệt đối không rửa tay.

Uyên phá lên cười:

- Cháu nghe đâu đó mấy cụ kể rồi. Cháu cứ tưởng các cụ nói đùa cho vui.

- Không đâu cô. Chính vì cái cảm giác mạnh nên mới in trong trí tôi lâu đến thế.

Ông chợt mê đi như khứu giác đang bị nhận chìm trong mùi hương dĩ vãng. Nhìn nét mặt của ông, Uyên hiểu được sự rung động mãnh liệt khi ông vụng về nắm lấy tay người vợ sắp cưới. Nó in hằn trong trí mãi đến mấy mươi năm sau ông vẫn hình dung được buổi chiều bên hông nhà thờ, có người con gái tuổi trăng tròn đứng bối rối e thẹn không thốt nên lời. Ông cười mỉm:

- Nghĩ lại lúc đó cũng thật buồn cười, ngây ngô chẳng ra làm sao cả. Cưới bà nhà tôi được một ngày, bà ấy chạy vội lên nhà thờ gặp cha xứ để xưng tội. À! Để tôi giải thích cho cô hiểu xưng tội là gì. Theo luật đạo thì giáo dân phải gặp linh mục để xưng những tội mình đã phạm, để tâm hồn được trong sạch. Chuyện này mãi đến khi di cư vào Nam, sinh thằng con đầu lòng nhà tôi mới kể lại cho tôi nghe. Nhà tôi xưng tội với vị linh mục già rằng chồng của con kỳ cục lắm kia, tối hôm qua nó giở trò ma trò quỉ thật kinh khủng, quá sức tưởng tượng của con. Vị linh mục già hiểu chuyện, giải thích là việc đó Chúa cho phép. Nghe vậy nhà tôi mới yên tâm ra về. Cô thấy không, ngơ ngơ đi lấy chồng chẳng hiểu một chút gì, vậy mà lấy chồng rồi lại một lòng yêu thương chồng con hết cả đời.

Chỉ mới biết ông Lai hơn tuần, Uyên đã cảm thấy thật gần gũi với bác. Nàng ngồi thoải mái, dựa lưng vào tấm bia nghe ông kể chuyện. Tâm hồn Uyên thật an bình khi ngồi bên ông, có lẽ bắt nguồn từ sự bình dị, thân thiện của ông. Buổi chiều se lạnh, gió vờn nhẹ những ngọn lá vàng rơi rụng quanh mộ, bác cháu vẫn cười vui trò chuyện. Lời kể chuyện dí dỏm, giọng nói trầm ấm của ông vẫn âm vang khi nắng đã tắt sau ngọn đồi để lại ráng mây đỏ quạnh và Uyên cảm thấy lòng nàng ấm áp hơn bao giờ. Khi ngọn lửa yêu thương nung nấu tâm hồn nàng, đó là lúc Uyên cảm thấy tình phụ tử bừng bừng trong lòng. Sự thiếu thốn chăm sóc của bố từ thuở nhỏ Uyên vốn khao khát bấy lâu nay, gặp ông Lai chân tình tâm sự nàng chợt nhìn thấy nơi ông hình ảnh của một người cha. Một người đàn ông từng trải, hết lòng yêu thương vợ qua những chuyến xe buýt đến và đi, Uyên thấy đó là mẫu mực mà nếu bố nàng còn sống, chắc chắn cũng sẽ có một cuộc sống thủy chung như vậy. Chỉ mới gặp và trò chuyện với ông Lai lần thứ hai, Uyên đã đặt ông vào một chỗ trang trọng trong lòng nàng. Chiều hôm đó, Uyên chở ông Lai về tận nhà. Nàng nói lần sau nếu đi thăm mẹ, cháu sẽ đi thật trễ rồi chở bác về nhà luôn, để bác khỏi phải đáp xe buýt.

Bẵng đi vài tuần, Uyên bận việc nên không đến nghĩa trang. Nàng muốn Huy đi với nàng nhưng chàng từ chối, viện cớ phải lo kiếm việc. Đúng ra Huy thất nghiệp hơn nửa năm nay. Hai vợ chồng son tuy chẳng tiêu pha gì nhiều nhưng Uyên lại bận tâm về món nợ tiền nhà hàng tháng. Ngôi nhà lộng lẫy nằm ngang lưng đồi đáng giá hơn triệu bạc. Lương của hai vợ chồng dư sức để trả tiền hàng tháng nhưng nếu một trong hai vợ chồng thất nghiệp thì cuộc sống hơi chật vật. Huy cũng lo lắng không kém, chàng bỏ hết thì giờ trong ngày để kiếm việc. Móc nối với những người bạn xưa kia, chàng tất tả kiếm việc. Tình hình kinh tế ở vùng Thung lũng Hoa vàng đã chuyển sang một khúc quanh mới. Tất cả công việc làm các chủ nhân ông chuyển hết sang thị trường châu Á, nơi giá nhân công thật rẻ mạt. Họ khai thác tận tình sức lao động của đám nhân công ít tay nghề nhưng bằng mọi giá nai lưng làm việc cố nâng cao mức sống để hội nhập với thế giới ngày càng văn minh. Chuyện dễ hiểu là khi chuyển việc ra nước ngoài thì dân bản xứ thất nghiệp. Thời vàng son của chồng “tách” (technician) vợ “ly” (assembly) nay chỉ còn bàng bạc trong trí nhớ. Đến kỹ sư như Huy còn thất nghiệp thì tách với ly đều vỡ tan thành nhiều mảnh vụn. Công việc của kỹ sư xưa kia nay cũng tàn lụi theo với thời gian.

Vì mất việc nên Huy bồn chồn đứng ngồi không yên. Ăn gần hết tiền thất nghiệp, trông Huy lo lắng thấy rõ. Chàng bẳn rẳn, ít nói, tính tình đâm ra cộc cằn. Huy chẳng còn thích thú khi Uyên rủ chàng đi đây đi đó. Uyên quý trọng bác Lai nhưng đối với Huy, chàng vẫn dửng dưng. Đối với chàng, những việc khác quan trọng hơn là ra nghĩa địa ngồi nói chuyện với một ông già. Riết rồi Uyên không buồn nhắc đến nữa. Nàng một mình siêng năng đến nghĩa trang; tính ra Uyên đã quen biết ông Lai hơn nửa năm nay.

Uyên không nhớ nàng ra mộ chuyện trò ông Lai bao nhiêu lần trong khoảng ấy thời gian ấy nhưng Uyên nhớ như in có một lần, cái lần duy nhất ấy đã để lại một dấu ấn vĩnh viễn trong tâm trí của nàng. Như thường lệ, sau khi viếng mộ mẹ, Uyên rảo bước lên đồi gặp ông. Vừa nhác thấy Uyên, ông bỏ vội cuốn sách xuống, gỡ mục kỉnh, quay nhìn nấm mộ rồi nói:

- Bà ơi! Có cô Uyên ra thăm bà này.

Đang bước, Uyên giật mình đứng lại khi nghe câu nói của ông Lai. Từng ấy chữ Uyên nghe rõ mồn một và cơ hồ nàng thấy người nhẹ tênh, lâng lâng phiêu du ở một thế giới khác. Tâm hồn Uyên choáng ngợp một thứ tình cảm lạ kỳ, reo vui len lỏi vào những chỗ sâu thẳm nhất của trái tim. Chỉ một câu nói thân tình đó, Uyên suýt bật khóc. Với thân phận côi cút, nàng thèm khát tình thương của cha mẹ đã từ lâu. Bác Lai phải yêu thương Uyên lắm mới thốt ra một câu như thế. Câu nói thật tự nhiên nhưng Uyên thấy từng chữ thấm vào óc, lắng vào đáy hồn nghe như vỗ về, ủi an… và nàng chợt thấy lòng mình thổn thức. Nước mắt rưng rưng, Uyên nhìn bác Lai:

- Cám ơn bác.

Ông Lai lắc đầu không hiểu:

- Cô cám ơn tôi cái gì?

Uyên đến bên bác Lai, nhìn sâu vào đôi mắt thâm quầng vẫn còn nét tinh anh. Không nói một lời, nàng nhẹ nhàng ôm lấy ông rồi gục đầu vào vai ông ứa nước mắt. Như cảm thông được nỗi lòng của Uyên, ông vỗ nhẹ vào lưng nàng, để Uyên tự nhiên với nỗi cảm xúc…

Chưa bao giờ Uyên cảm thấy gần với bác Lai như buổi chiều hôm đó. Uyên nghe lòng mình rộn rã vì cơ hồ nàng đã tìm lại được những tình cảm quý báu hơn một lần mất mát. Bác cháu ngồi nói chuyện lan man về tình yêu, về cuộc sống. Uyên kể cho ông Lai nghe cuộc tình của nàng. Mồ côi cha từ nhỏ nên tính tình Uyên cứng rắn đến ương ngạnh. Lớn lên một chút, sự thiếu thốn tình phụ tử đẩy Uyên vào tình trạng lầm lì, câm nín. May có mẹ cũng hiểu biết chút tâm lý nên bù đắp được một phần. Hình ảnh người cha nhạt nhoà trong ký ức của Uyên. Mẹ Uyên chăm chút cho nàng ăn học nhưng ngoài ra mọi chuyện khác trong gia đình đều do một tay Uyên. Sớm biết suy nghĩ, sớm phải thay mẹ quyết định nên trông Uyên già dặn trước tuổi. Niềm vui công thành danh toại chưa được bao lâu thì mẹ nàng qua đời sau một thời gian chiến đấu với căn bệnh ung thư máu. Không có họ hàng thân thích nên việc chữa trị qua phương pháp ghép tuỷ sống trở nên vô vọng. Cái chết của người mẹ thật sự đã đẩy Uyên vào một khúc quanh đen tối nhất của cuộc đời. Nét mặt Uyên ủ dột, nàng nói với bác Lai cháu gần như không còn sức sống kể từ ngày mẹ cháu mất. Rồi cuộc đời Uyên bỗng khởi sắc từ ngày quen Huy. Chàng âu yếm nâng cằm Uyên và bảo, cả đời anh chỉ yêu mỗi Uyên. Hơi thở chàng ấm áp phả lên mặt Uyên. Môi chàng thơm như một trái táo chín. Người Uyên lịm đi trong hơi hướm của người đàn ông nàng chọn lựa giữa hàng chục kẻ theo đuổi xin hôn lên bàn tay trắng nuốt như cánh sen. Nàng ngả đầu vào vai Huy thỏ thẻ, em cám ơn anh đã yêu em. Tình yêu… đám cưới… và hạnh phúc.

Đây là lần thứ hai trong đời Uyên lịm đi trong tình thương của một người đàn ông khác. Nàng chợt thấy mình như có cha có mẹ lần nữa. Hai người đàn ông mang đến cho nàng hai thứ tình cảm khác nhau nhưng cả hai đều cần thiết. Mẹ Uyên nằm đàng kia chắc cũng mỉm cười khi thấy nàng ngụp lặn trong tình phụ tử. Bác gái có lẽ cũng hân hoan khi thấy chồng tìm được một đứa con gái. Uyên hớn hở kể lại cho chồng chuyển biến lớn lao trong lòng nàng nhưng Huy vẫn thờ ơ. Chàng không còn tâm trí để nghe những chuyện tình cảm mà theo Huy chúng vô bổ, chẳng ích lợi gì. Còn Uyên, thực sự nàng không thể hiểu nổi con người của Huy. Tâm hồn đầy ắp tình cảm của người đàn ông mà nàng chọn lựa chỉ mới hai năm đã thay đổi đến thế sao? Đúng ra Huy phải mừng cho nàng chứ! Cứ tưởng Huy không nhảy cẫng lên thì ít nhất cũng ôm chầm lấy vợ và gọi phôn nói chuyện với bác Lai. Đàng này chàng chỉ ừ hử chiếu lệ, ra cái điều chuyện tình cảm của vợ thì để vợ lo. Chuyện Uyên xem ông Lai như bố mình chẳng gì có quan trọng đối với Huy. Tuyệt đối Huy không có một lời chia sẻ nào với niềm vui tràn ngập trong lòng nàng. Ban đầu niềm vui choáng ngợp nên Uyên không màng đến thái độ hờ hững của Huy, dần dần nàng thấy Huy vô tình quá. Vợ chồng phải hiểu nhau chứ, Uyên lắc đầu nghĩ thầm. Sao Huy lại không hiểu được một thứ tình cảm khác, cũng quan trọng không kém tình yêu vợ chồng, đang ngự trị trong tim của Uyên? Tình phụ tử nhen nhúm và lớn dần trong lòng nàng đã đến lúc chín mùi. Nó đánh dấu một khúc quanh khác trong cuộc đời của Uyên như ngày mẹ nàng mất. Nếu ngày đó tâm hồn Uyên mệt mỏi đến chán chường thì lúc nàng khóc tỉ tê trên vai bác Lai nàng chợt thấy mình như vừa hồi sinh, thấy cả một mùa xuân có hoa nở rộ. Những giọt lệ hạnh phúc.

Thái độ của Huy khi nghe Uyên nói về bác Lai ban đầu chàng còn chú tâm, mãi về sau Huy gần như không muốn nghe Uyên nữa. Thời gian về sau, khi Huy tất bật đi kiếm việc vì đã hết tiền thất nghiệp, chàng lại càng dửng dưng đến độ đáng ghét. Và chuyện xảy ra sau đó vài tháng khi Huy tuyệt vọng không kiếm được việc, chàng trở nên bẳn gắt hơn bao giờ. Uyên bồn chồn nóng ruột khi tình trạng tài chánh của gia đình đi đến chỗ quyết liệt, tiền để dành gần cạn mà Huy vẫn không kiếm ra việc. Uyên trong một lần quẫn trí, nàng không kiểm soát được lời nói:

- Anh thật vô tích sự, có mỗi việc làm mà tìm không được thì còn làm gì nên việc.

Thật ra Uyên chủ quan, công việc của Uyên khác hẳn với nghề nghiệp của Huy. Nghề kỹ sư của Huy bị chuyển ra các nước ngoài nên việc làm tìm kiếm thật khó khăn là điều dễ hiểu. Nghề nghiệp của Uyên lại khác, nàng chịu trách nhiệm điều hành một số vốn cả trăm triệu của một công ty bảo hiểm. Uyên chuyên lo đầu tư, phân phối lợi tức sao cho hợp lý. Mỗi năm Uyên đem lời về cho hãng cả mười mấy triệu đồng. Tiền thưởng nhận được có năm lên đến gần nửa số tiền lương. Tính ra tiền lương hàng năm của Uyên vốn đã lớn hơn lương chồng rồi, có thêm tiền thưởng tiền thu nhập của nàng lại càng cách xa lương của Huy. Bình thường ra Uyên không màng gì đến sự cách biệt giữa đồng lương của hai vợ chồng. Nàng chưa bao giờ so đo về số tiền nàng kiếm được. Tình yêu của Huy cao quý hơn nhiều. Đó là khi cả hai còn việc làm, đồng tiền không ảnh hưởng gì đến việc tiêu pha. Đến khi Huy mất việc, chuyện tiêu pha bị hạn chế gần cả năm nay, Uyên cũng đành. Nhưng món tiền trả ngân hàng cho căn nhà làm Uyên băn khoăn không ít. Nó gặm mòn dần tiền để dành, đến lúc nó chỉ còn vừa xoẳn một tháng để trả cho ngân hàng thì lòng Uyên nóng như lửa đốt. Thêm vào đó, Huy hờ hững với chuyện giữa nàng với bác Lai cũng là nguyên do khiến Uyên dễ bực tức. Từ nóng giận đến mất khôn nói những câu chạm tự ái của chồng chỉ là một bước ngắn.

Uyên thở dài nói với bác Lai:

- Huy bỏ nhà đi rồi, bác ơi!

Ông Lai hơi sửng sốt:

- Chuyện gì vậy?

- Thì con có nói gì đâu! Con chỉ hỏi kiếm việc khó vậy sao anh?

Ông Lai hỏi gặng:

- Chỉ hỏi vậy mà nó giận sao?

Uyên yên lặng. Ông Lai cũng chẳng hỏi thêm. Thoáng nghe ông cũng đoán được chuyện. Việc làm, tiền bạc… Đồng tiền thật nguy hiểm, nếu không khéo người ta sẽ mất tất cả. Anh em, họ hàng, vợ chồng đoạn tình nghĩa với nhau cũng vì đồng tiền. Sự yên lặng của bác Lai làm Uyên băn khoăn không ít. Nàng nghĩ có lẽ bác cũng đoán được đôi phần. Uyên ngần ngừ một chút rồi nàng thổ lộ hết mọi chuyện. Ông Lai lặng yên chăm chú nghe, lâu lâu lại nhấp chút nước trà. Uyên chấm dứt câu chuyện mà ông vẫn ngồi trầm ngâm không nói một lời. Mãi lúc sau, ông mới chậm rãi:

- Tính con giống bác gái, nghĩa là quán xuyến, tháo vát hết mọi chuyện từ trong ra ngoài. Ngày mới qua Mỹ, bác gái bương chải đi làm để giúp bác học hành. Nói là học chứ thật ra bác chỉ cố kiếm dăm ba chữ để đi làm. Cả hai năm trời đầu tắt mặt tối, bác gái lo mọi chuyện để bác và hai thằng con yên tâm đèn sách. Con thấy không, người vợ hy sinh đến thế thì công đâu phải nhỏ. Đến khi bác đi làm thì bác gái lại chuyển sang buôn bán. Bà ấy buôn bán thật khéo tay, buôn một lời mười. Lương của bác tính ra chẳng ăn thua gì. Cả nhà nhờ nơi bác được mỗi cái bảo hiểm y tế. Một tay bác gái dựng nên cơ đồ, lo chồng con học hành đến nơi đến chốn.

Ông Lai thở dài:

- Và đây là điểm mà bác bái phục bác gái mãi không thôi. Con biết người chồng thường được xem là cột trụ trong gia đình, vì thế nếu đồng tiền làm ra thua kém so với vợ thì tự ngay trong thâm tâm người đàn ông đã mang mặc cảm rồi. Đối với phong tục Á-đông thì chuyện người chồng thua kém vợ xem ra không ổn chút nào. Bác cũng có mặc cảm chứ nhưng bác gái mặc dù chẳng học một lớp tâm lý nào thế mà lại hiểu rõ bác hơn ai hết. Tiền bác gái làm ra hàng tháng ăn đứt lương ba cọc ba đồng của bác. Thế mà tất cả lời ăn tiếng nói, bác gái không bao giờ tỏ thái độ hơn chồng. Nhất là lúc bác thất nghiệp nằm nhà ăn bám vợ. Thời gian đó bác tủi thân lắm. Cũng một câu nói bình thường ra không sao nhưng khi người đàn ông thất nghiệp thì họ thường hiểu chệch ra là mắng xéo. Vì thế mới dễ gây ra hiểu lầm…Uyên hầu như không ý tứ lời ăn tiếng nói với Huy, nhất là trong thời gian chồng thất nghiệp. Tính nàng độc lập, lại thẳng tính nên có thể Huy rất buồn nhưng không dám nói ra vì mang mặc cảm thua kém vợ.

- Những lần ngồi bên mộ, con biết là bác thường ôn lại quá khứ. Có ôn lại mới thấy mình có quá nhiều tật xấu. Bác nhớ có lần bác to tiếng với bác gái trong thời gian mất việc nằm không ở nhà. Thế mà bác gái vẫn nhỏ nhẹ chiều bác. Bác gái còn nói là hay thôi bác ở nhà nghỉ ngơi, đọc sách, vui cây cảnh cho thoải mái; làm việc hai mươi năm như thế là đủ rồi…

Giọng bác Lai chợt lạc đi. Uyên nghe như có tiếng nấc:

- Chính thời gian này bác đâm đổ đốn ra. Nhàn cư vi bất thiện. Đã không làm giúp gia đình lại còn phá của. Hình như Chúa ban cho bà ấy một sức chịu đựng phi thường. Tiền bạc bác gái làm được bao nhiêu thì bác phá bấy nhiêu. Bây giờ ngồi đây kể chuyện cho con nghe mà bác thấy mình thật có lỗi với bác gái vô cùng…

Bác Lai chỉ nói được đến đó rồi úp mặt vào đôi tay, nghẹn ngào:

- Tôi có lỗi với bà lắm, bà ơi! Bà tha lỗi cho tôi…

Uyên vội chồm người ôm lấy ông:

- Bác, bác…

Những giọt nước mắt hối hận ướt đôi bàn tay nhăn nheo đang che kín khuôn mặt như ngượng ngùng không dám đối diện với người vợ đã khuất. Uyên xúc động khi nhìn bác Lai cúi đầu bên mộ. Bác nhớ thương người vợ đã một đời hết lòng vì chồng con. Tâm hồn mượt mà của bác gái trải dài trong suốt cuộc đời làm vợ và làm mẹ. Uyên cúi đầu trước tấm lòng của người mẹ ruột nhưng đối với người đàn bà nằm trong nấm mộ này nàng thật sự thấy một mẫu mực của người vợ tận tuỵ, vượt quá tầm hiểu biết của Uyên. Cả hai người đàn bà để lại cho nàng những tấm gương sáng trong đời sống vợ chồng, thế mà chỉ vì vụng xử trong lúc túng quẫn, Uyên dễ dàng đánh mất một tình yêu mà nàng đã một thời nâng niu, trân quý.

Uyên xoa xoa lưng ông, ân cần:

- Con đây bác…

Ông Lai thở dài:

- Cám ơn con… Đó, bác không còn gì dấu diếm con nữa. Bác ra mộ thăm bác gái một phần là để chuộc lỗi chứ không hoàn toàn để ôn lại kỷ niệm. Cái dở nhất của con người là khi có trong tay thì không bao giờ quý, như bác chỉ nhận ra lầm lỗi của mình khi người vợ đã nằm xuống. Quá trễ, con thấy không? Bây giờ ngồi đây có tiếc nuối thì cũng đã quá muộn màng. Tình yêu cũng thế, hãy quý trọng nó, con ạ! Căn nhà của con tuy đắt giá thật nhưng tình nghĩa vợ chồng quý trọng hơn thế nhiều. Con không thể nào mua với bất cứ tiền bạc nào trên đời.

- Con không ngờ bác gái đảm đang đến vậy.

- Chuyện bác gái đảm đang con đừng ngạc nhiên, chỉ có bác đây tệ đến thế nào thì con không ngờ được đâu. Trước 75, lương công chức như bác cũng chẳng bao nhiêu, bởi vậy bác mới tính chuyện buôn bán để có đồng ra đồng vào. Vậy mà bác buôn đến đâu lỗ đến đấy, có khi cạn vốn trắng cả tay. Thế mà bác gái vẫn vui vẻ gầy dựng lại từ đầu, chẳng cằn nhằn, tiếc nuối. Bác cứ nhớ bác gái nói với bác là chồng còn, con cái còn thì chẳng có gì phải lo, đồng tiền phù du rồi cũng hết, cái mình đang có quý hơn tiền bạc nhiều. Phải thú thật là bác bất tài, chẳng làm nên cơm cháo gì. Cả gia đình bác được một đoạn kết có hậu cũng chỉ nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của bác gái.

Bác Lai ngồi trầm ngâm, đôi mắt mơ màng cơ hồ nhớ lại một thuở bên nhau. Thần trí bay bổng tận nơi nào, bác lẩm bẩm như người mộng du:

- Bà đã để lại cho riêng cha con tôi một tình yêu bất diệt…

Những ngày sau đó, Uyên sống thẫn thờ trong căn nhà rộng thênh thang thiếu sinh khí. Nàng biết Huy về lại bên nhà cha mẹ hoặc sống đâu đó trong thành phố này. Không biết chàng đã tìm được việc làm chưa? Có một lần Uyên thấy số phôn của Huy hiện trên điện thoại cầm tay của nàng nhưng không để lại lời nhắn. Thời gian đó Uyên vẫn còn giận chồng vô dụng nên nàng cũng chẳng buồn gọi lại. Sau lần nói chuyện với bác Lai, Uyên suy nghĩ không ít về cách hành xử của nàng đối với chồng. Bác Thu, vợ bác Lai, một người đàn bà nàng chưa bao giờ được tiếp chuyện, mặc dù đã nằm xuống nhưng để lại biết bao âm hưởng trong cuộc sống của cha con bác. Sao trên đời lại có những người đàn bà sống thiết tha với triết lý thật đơn giản, lấy hạnh phúc của gia đình làm hạnh phúc của mình? Nàng có làm được thế không? đã đôi lúc Uyên tự hỏi lòng mình. Nghĩ cho cùng, đồng tiền không thiếu trong cuộc sống của hai vợ chồng son. Chỉ vì muốn giữ căn nhà mà Uyên nhẫn tâm trách cứ chồng, trong khi chàng đã gắng hết sức mình tìm kiếm việc trong suốt năm trường. Giữa căn nhà và tình yêu vợ chồng đặt lên bàn cân, Uyên thấy rõ cái gì quý giá cần phải giữ. Vậy mà nàng đã không giữ được lời nói. Cùng lắm hai vợ chồng bán căn nhà treo lơ lửng ngang lưng đồi này đi rồi dọn về một căn khác rẻ hơn nhưng cũng không kém phần khang trang cũng được vậy. Bù lại tình yêu vợ chồng vẫn đầy ắp, những ngày trăng mật vẫn kéo dài bất tận, chuẩn bị cho con cái ra đời. Hạnh phúc gia đình, quả thật như bác Lai nói, không tiền bạc nào mua được.

Vừa tìm được nguồn hạnh phúc nơi tình phụ tử của bác Lai, Uyên lại vô tình đánh mất tình yêu vợ chồng. Hạnh phúc Uyên đang khoan thai thụ hưởng thế mà chỉ vì vụng xử để bây giờ nàng ngồi ngậm ngùi cố nuốt trôi những tiếng thở dài. Bác Lai không cho Uyên một lời khuyên nào cụ thể nhưng bàng bạc trong chuyện kể về bác gái, bác đã nhắn nhủ nàng rất nhiều. Uyên cũng nhận ra tình yêu thật cần thiết cho cuộc sống. Nó phải vượt thoát trên mọi hoàn cảnh, mọi tình huống khắc nghiệt nhất. Cuối đời khi nằm xuống, người ta chỉ để lại được dấu ấn của tình yêu cho người thân, cho hậu thế. Nó tồn tại vĩnh viễn so với thời gian.

Biết thế nhưng Uyên vẫn chần chừ chưa muốn gọi cho Huy. Với bản tính ương ngạnh, Uyên vẫn còn tự hào thấy những điểm son của nàng và cau mày khi thấy những sở đoản của chồng. Uyên muốn để thêm một thời gian nữa cho nguôi hờn, cho Huy thấy được sự thua kém của chàng. Đang băn khoăn sống dật dờ trong căn nhà vắng thì Uyên nhận được hung tin bác Lai đã qua đời. Cái chết bất ngờ của bác đã đẩy Uyên vào trạng thái cô đơn cùng cực trong đời, nhất là lúc này chẳng có ai bên cạnh để bầu bạn hoặc tâm sự.

Nàng ngồi bó gối ôn lại những kỷ niệm với bác Lai, lòng thổn thức nhớ đến một ông già mà Uyên trân trọng xem như người cha. Bác Lai chết Uyên không hề biết, không có dịp đến nhà quàn để nhìn mặt bác lần cuối. Đó là điều ấm ức cứ dằn vặt Uyên mãi khôn nguôi. Nguyên một buổi chiều, từ lúc buông điện thoại, Uyên cứ ngồi nhìn mông lung xuống thành phố, tâm trí quay lại ngày tháng cũ từ lúc quen biết bác. Trời ơi! bác bỏ con đi không nói một lời, Uyên đau đớn nghĩ thầm. Nàng nhớ bác Lai quay quắt. Nỗi nhớ đùn lên khóe mắt, Uyên bật khóc tức tưởi.

Căn nhà trên ngọn đồi đứng mệt mỏi khi bóng tối đổ ập xuống thung lũng. Trong bóng đêm mông lung, Uyên chợt thoáng nghe đâu đó tiếng bác Lai nương theo gió lượn vật vờ ngang ngọn đồi. Đêm hôm đó, Uyên không buồn cơm nước, nằm dài trên sôfa thức trắng với những kỷ niệm vây kín hồn nàng.

* * *

Sáng hôm sau, Uyên uể oải đến văn phòng luật sư Morgan. Bước vào phòng, Uyên được giới thiệu với vợ chồng hai người con trai của bác Lai. Lần đầu tiên gặp mặt hai anh con trai, Uyên thấy họ thật giống bố, từ khuôn mặt đến cử chỉ. Thật ra trước đây bác Lai đã cho Uyên xem hình của gia đình của hai người con này. Có thể họ không biết Uyên, nhưng nàng đã nghe bác Lai nói nhiều về họ. Hai người con học hành đỗ đạt, vì công ăn việc làm nên phải sống xa cha mẹ nhưng mỗi năm đều cố gắng về thăm gia đình. Cuộc sống gia đình của họ hạnh phúc, chắc chắn nhờ phúc đức của người mẹ. Hai cô con dâu cũng hết lòng yêu thương bố chồng, theo lời bác Lai kể lại.

Nàng tự giới thiệu:

- Em là Uyên. Thưa với anh chị là em quen bác Lai ngoài nghĩa trang khi em đi thăm mộ mẹ em. Trước đây bác có kể nhiều với em về gia đình hai anh chị. Nay thật hân hạnh được biết mặt tất cả mọi người. Em xin chia buồn cùng anh chị. Có ai ngờ bác mất mau như vậy!

Uyên rưng rưng nước mắt:

- Em xem bác Lai như bố mình. Thế mà lúc bác mất em lại không biết, ngay cả tiễn đưa bác cũng chẳng có mặt em. Em thật có lỗi với bác quá.

Một trong hai người anh nhỏ nhẹ:

- Cám ơn Uyên đã chia buồn. Ngay bọn anh cũng sững sờ khi nghe tin. Vừa bay sang đây là có trăm việc phải lo nên chẳng một ai nhớ đến cô. Lỗi nơi bọn anh cả. Thật ra bố đã giới thiệu Uyên với anh chị qua những lần nói chuyện trên điện thoại. Bố anh thương Uyên một cách đặc biệt. Rất mong Uyên xem anh chị như người trong nhà vậy.

Uyên xúc động:

- Cám ơn anh chị. Em cũng chẳng có ai thân thiết, nay được anh chị xem như em út trong nhà thì quý hoá quá. Có điều em không ngờ trong chúc thư của bác lại có tên em.

Ông Morgan ngắt lời:

- Cô đừng lo, ông Lai có để lại một bức thư riêng cho hai anh đây. Tôi nghĩ bác đã giải thích lý do có sự hiện diện của cô. Tôi cũng nhận được một lá thư tương tự nên tôi hiểu rõ tình thương của ông đối với cô. Bây giờ xin mọi người ngồi vào chỗ để chúng ta bắt đầu làm việc.

Sau một vài thủ tục hành chánh qui định, luật sư Morgan dõng dạc đọc chúc thư. Tất cả nhà cửa, xe cộ, đất đai, tiền bạc đầu tư được phân chia đều cho hai gia đình người anh. Riêng Uyên, vị luật sư trao cho nàng một chìa khoá nhỏ. Ông nói đây là chìa khoá để mở ngăn lưu trữ tại một ngân hàng địa phương. Ông nói thêm chính tôi cũng không biết trong đó có gì.

- Đây, tất cả giấy tờ cần thiết và hợp pháp ông Lai uỷ thác cho cô. Tất cả những gì trong ngăn lưu trữ này thuộc về quyền sở hữu của cô.

Uyên cám ơn vị luật sư. Nàng mân mê chiếc chìa khoá nhỏ, chợt nhớ đến những lúc ngồi bên mộ chuyện trò với bác Lai. Uyên nhận chìm tâm tư vào những lần gặp gỡ mãi đến lúc vợ chồng hai người anh chào từ giã nàng mới tỉnh người nhìn lên. Vội đứng dậy, Uyên mời hai anh có dịp về thăm mộ hai bác ghé cho biết nhà vợ chồng bọn em. Uyên chỉ mời xã giao, thật lòng nàng chưa muốn họ đến thăm gia đình nàng bây giờ, vì Uyên không muốn họ biết chuyện Huy giận nàng bỏ đi. Lần giỗ năm tới, thế nào Uyên cũng nài cho bằng được. Thật may, hai gia đình phải ra phi trường gấp cho kịp chuyến bay nên hẹn vào dịp khác.

Ngay hôm sau, ngày thứ Hai, buổi trưa Uyên lái xe đến ngân hàng. Sau khi trình mọi giấy tờ cần thiết, cô nhân viên dẫn Uyên vào căn phòng khá rộng, trên tường gắn chi chít những hộp lưu trữ của khách hàng. Sau khi đưa Uyên đến ngay trước ngăn của bác Lai, cô nhân viên bước ra khỏi phòng để mặc nàng đứng tần ngần một mình. Uyên lẩm nhẩm so con số trên mặt ô vuông với con số khắc trên mặt chìa. Nàng run run đút vào lỗ khóa và xoay đúng một vòng. Mở nắp ô vuông, Uyên thấy ngay một chiếc hộp gỗ vuông màu nâu gụ. Chiếc hộp gỗ dài chừng gang tay, cao cỡ một tấc. Đỡ bằng hai tay, Uyên nâng nó lên và đặt trên chiếc bàn dài rồi kéo ghế ngồi. Khẽ đẩy cái khuy, Uyên mở nắp và nàng thấy ngay một chiếc kẹp tóc đồi mồi nằm ngay giữa hộp.

Uyên cầm chiếc kẹp tóc lên ngắm nghía. Ồ! Cái trâm, nàng lẩm bẩm. Lúc còn nhỏ Uyên đã thấy mẹ nàng kẹp tóc bằng chiếc đồi mồi cùng loại. Cái trâm cong cong hình cánh cung, mặt lên nước nâu bóng trộn lẫn với những đốm sáng, hai bên có hai lỗ để xỏ cây trâm ngang để giữ tóc. Loại trâm này rất hợp với con gái có mái tóc thề. Uyên đoán chiếc kẹp đồi mồi này đã lâu năm, căn cứ vào hình dáng thô sơ và giản dị của nó. Ở trong hộp còn có một tờ giấy gấp tư. Uyên nhón tay, mở ra. Liếc nhanh từ trên xuống dưới, hóa ra lá thư của bác Lai viết cho Uyên.


San Jose, ngày… tháng… năm…

Uyên con,

Cả tuần nay không hiểu sao người bác bần thần lạ lắm. Không biết có phải nhớ con không vì lâu quá chẳng thấy con ra thăm mộ mẹ con. Cũng đến lúc bác phải lo hậu sự. Linh tính bác báo cho biết đã gần đến lúc bác sum họp với bác gái. Cái chết không ai biết trước được, nhưng cần phải chuẩn bị để ra đi cho thanh thản.

Cứ nghĩ đến lúc gặp lại bác gái, người bác rộn rã một niềm vui khó tả. Nó gần như cái cảm giác mà bác kể cho con nghe lúc nhìn mặt bác gái lần đầu tiên ở nhà xứ. Bác tin tưởng khi chết đi người ta bước vào một cuộc sống mới, mà cuộc sống này lại đoàn tụ với bác gái thì con thấy chẳng còn gì bằng. Khi ngày giờ đến, con cũng đừng thương tiếc bác nhưng nên chia sẻ niềm vui này với bác, Uyên nhé!

Bác để lại cho con cái trâm. Cái kẹp tóc này đã theo bác gái từ năm 16 tuổi. Bác ra mãi tận Hà nội, mua ở phố hàng Khay tặng cho bác gái sau khi chạm ngõ được đôi tháng. Thời gian đó bác gái có mái tóc thề đẹp lắm kia. Chiếc kẹp đồi mồi màu nâu lấp lánh trắng thật ăn với mái tóc của bác gái. Kẹp lên, trông mái tóc mượt mà hẳn ra. Bác gái quý cái trâm này lắm. Lần di cư vào Nam, bác gái gói ghém cẩn thận không dám kẹp sợ rơi mất. Suốt thời gian sau này, cả lúc sang đến Mỹ, bác gái giữ gìn nó một cách cẩn thận. Lâu lâu bác gái lấy nó ra mân mê, ngắm nghía, mơ màng nhớ lại ngày xưa. Đôi lần, bác bắt gặp bác gái ngồi thinh lặng với cái trâm trong tay. Thú thật bác đã quên chiếc kẹp lâu lắm rồi, cho dù nó chất chứa kỷ niệm thuở ban đầu. Có lần bác gái nói, đây là kỷ vật của em, món quà đầu đời anh tặng cho em, em sẽ giữ nó mãi cho đến ngày chết. Rồi bác gái chép miệng, tiếc rằng mình không có con gái để em tặng lại cho con. Cho dù không còn mái tóc óng ả như xưa nhưng bác gái vẫn giữ kỹ chiếc kẹp, để chung với các món nữ trang khác sắm được sau này. Cái trâm bằng đồi mồi phai mờ dần với thời gian nhưng tình yêu của bác gái vẫn đậm nét như thuở nào.

Ngày bác gái mất, đáng lẽ bác đặt nó trong quan tài. Nhưng không hiểu sao bác giữ lại, có lẽ tại mái tóc giả không xứng với chiếc kẹp chăng (bác gái bị ung thư nên rụng hết tóc), hoặc có lẽ bác muốn giữ lại kỷ vật để tưởng nhớ đến người đã khuất. Cho đến khi gặp con, bác thấy thật may mắn khi quyết định giữ lại chiếc kẹp. Có lẽ vong linh của bác gái biết trước sẽ có một ngày bác gặp con trên dương thế này, nên xui khiến bác không chôn theo mộ.

Hai bác không có con gái, may mắn lại có con, nên cái trâm này – kỷ vật của hai bác – con xứng đáng giữ lấy. Con không có mái tóc dài để kẹp, hơn nữa thời bây giờ ít ai kẹp tóc bằng trâm nhưng hai bác vẫn gửi lại cho con. Con xem như của hồi môn, kể cả những nữ trang trong chiếc hộp này.

Cầm cái trâm trong tay, con nhớ đến bác gái với mối tình tuyệt vời của một người vợ. Bác rất mong con cũng giữ một mối tình tuyệt đối như thế với Huy.

Trong người bác mệt mỏi nên không viết nhiều cho con được nhưng lòng của bác thế nào thì con đã hiểu.

Bác,
Phạm Lai

Đang khi đọc, nước mắt Uyên đã thấm ướt lá thư. Vừa đọc xong, Uyên buông lá thư, gục đầu vào đôi tay khóc tỉ tê. Nàng nức nở kêu thầm, bác ơi… bác ơi… con không xứng với tình thương của bác, bác Lai ơi! Bác mất con không hề biết, con cũng chẳng nhìn mặt bác lần cuối… Đôi vai run theo tiếng nấc, Uyên ngồi đó không biết bao lâu, mãi đến khi cô nhân viên bước vào hỏi han nàng mới gạt nước mắt đứng dậy.

Buổi chiều hôm đó, về đến nhà, Uyên ngồi tư lự như một pho tượng gỗ. Lá thư của bác Lai Uyên để trước mặt. Nàng đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần đọc là nước mắt lại ràn rụa trên đôi má. Cái trâm, kỷ vật của bác gái, nằm im lìm trên bàn như kiên nhẫn ngóng chờ một quyết định của Uyên. Nàng mân mê nó trong tay, mường tượng đến những lúc ân cần nắm giữ đôi bàn tay nhăn nheo của bác Lai. Đôi bàn tay của bác đã ủ lấy trái tim của Uyên, ấm lên tình phụ tử. Dòng máu thương yêu luân lưu trong cơ thể nàng như nguồn sinh lực dồi dào giúp Uyên lớn hẳn lên chỉ trong vòng nửa năm, nửa năm phù du bên người bố nàng cảm thấy sống không thể thiếu. Vậy mà Uyên mất bác Lai, mất vĩnh viễn. Còn ai bên Uyên khi vui, khi buồn? Có ai cho Uyên mượn vai để ngả đầu khóc vùi? Lấy ai thấm nước mắt cho Uyên khi tâm hồn rã rời mệt mỏi. Bác Lai thường vuốt tóc Uyên khi nghe nàng thủ thỉ. Vai áo bác đã có lần ướt đẫm nước mắt Uyên. Mất thật rồi, Uyên mất tất cả, chỉ còn mỗi Huy với khoảng cách của vụng xử, của tự ái mà nàng chợt thấy tiếc nuối khi ngồi nghĩ đến những ngày tháng yêu nhau. Thời gian ấy sao đẹp thế không biết, để bây giờ ngồi nức nở với đôi má ướt đẫm nước mắt.

Huy có còn chờ đợi nàng ở một nơi nào đó trong thành phố lắm phiền muộn này, Uyên tin chắc tình yêu nồng ấm của Huy vẫn giữ chàng một khoảng cách vừa phải, không đến nỗi phải vĩnh viễn chia lìa. Thoáng nhìn lại đời mình, Uyên chợt thấy số phận nàng quá hẩm hiu. Bố mất, mẹ bỏ nàng đi… không anh, không chị, cũng chẳng một đứa em nào. Uyên sống cô đơn ở cõi trần mãi đến lúc yêu Huy, nàng chợt nhận ra tình yêu phải tuyệt đối và thật cần thiết. Trong lá thư bác Lai cũng nói đến một tình yêu tuyệt đối như thế. Bất hạnh cho bác là mãi đến khi bác gái mất, bác mới nhận ra tình yêu là tuyệt đối. Uyên có cần phải trả một giá đắt đến thế không? Bài học bác Lai học được qua lời kể, qua một lần bác tức tưởi bên nấm mộ bác gái. Càng nghĩ đến bác Lai, Uyên càng thấy nhớ Huy quay quắt. Đáng lẽ những lúc đau buồn này, Huy phải ở bên cạnh nàng. Vai Huy đây, Uyên sẽ gục đầu vào thổn thức. Chàng sẽ vuốt tóc Uyên như thuở nào, lời chàng thủ thỉ bên tai nghe vi vu như thông reo. Miệng chàng ngậm lấy rái tai làm Uyên nhồn nhột cười khúc khích. Uyên thở dài thầm nghĩ tình yêu sao lãng đãng như khói lam chiều.

Chiều đông, mây xám giăng kín bầu trời. Tâm hồn Uyên cũng một màu xám ngắt, buồn. Gần Tết, hầu như ai cũng bận rộn sắm sửa, không gì thì cũng có một cành mai, chậu cảnh chưng trong nhà. Ngoài trời lạnh buốt da nhưng không khí gia đình nồng ấm hơi Xuân. Đó là lúc vợ chồng con cái quây quần bên nhau ôn lại những Tết xưa. Chả bù với căn nhà Uyên trống vắng, lạnh lẽo hơn bao giờ. Liệu Uyên chịu đựng được nỗi cô đơn này đến bao giờ? Uyên ngồi tư lự nhớ đến hai năm yêu nhau vui buồn lẫn lộn. Nàng thảng thốt nghĩ đến một cái Tết đầu tiên không có Huy. Uyên chợt nghe tự đáy hồn vang vọng tiếng gọi Huy ơi thôi thúc. Âm vang của tiếng gọi mỗi lúc mỗi lớn, đánh mạnh vào tâm tưởng nàng nghe thật nhức nhối. Uyên quờ tay chụp lấy chiếc phôn, miệng không ngớt thổn thức gọi thầm anh ơi… anh ơi… Vừa bấm số gọi cho Huy, Uyên cố kìm giữ nỗi cảm xúc. Nhưng vừa nghe tiếng của chồng ở bên kia đầu dây, Uyên đã bật khóc nức nở:

- Huy ơi! Huy… anh tha lỗi cho em.


Lời cuối của Uyên:

Tôi rất buồn qua cái chết của bác Lai, nhưng may mắn tôi đã tìm lại được hạnh phúc gia đình. Làm sao cám ơn tình thương của bác cho hết, từ lúc sống đến lúc chết bác đều nghĩ đến tôi, đứa con gái bác nhận làm con. Vong linh của bác cũng mỉm cười khi thấy gia đình tôi sum họp.

Tôi xin nói thêm chút nữa về chiếc hộp gỗ để quý vị hiểu rõ thêm tình thương của bác Lai đối với tôi thế nào. Trong lá thư, bác nói bác để lại cho tôi cái trâm xem như của hồi môn và những nữ trang cũng nằm trong chiếc hộp gỗ đó. Tôi xem đi xem lại thì chỉ có cái kẹp đồi mồi và lá thư, thế thôi. Có thấy nữ trang gì đâu! Tôi chẳng thắc mắc gì về chuyện ấy vì Huy đã về nhà, tình yêu chúng tôi lại say đắm như thuở mới lấy nhau. Hạnh phúc gia đình còn quý gấp trăm lần mớ nữ trang mà tôi chưa hề thấy qua một lần. Đôi lúc tôi nghĩ có lẽ bác đã lẫn, nên chẳng nghĩ ngợi gì.

Hơn tuần sau, tình cờ Huy làm rơi chiếc hộp xuống sàn nhà. Lúc cầm lên, tôi nghe tiếng xóc xách. Mãi vợ chồng tôi mới khám phá ra chiếc hộp gỗ có hai đáy. Khéo tay bẩy cái đáy đầu tiên lên thì đúng như lời bác viết trong lá thư, tất cả nữ trang từ vòng, xuyến, nhẫn, cẩm thạch, bông tai, hột xoàn… mỗi thứ nằm trong một túi vải nhỏ riêng, có dây buộc phía ngoài. Tôi nghĩ đây phải là toàn bộ nữ trang của bác Thu vì nhiều quá, giá trị quá. Tôi có gọi phôn cho hai anh con trai, nói là em không dám nhận những nữ trang của bác gái, xin gửi lại cho hai anh. Nhưng hai anh khẳng khái bảo bố anh đã để lại cho em thì em cứ nhận cho ông cụ vui lòng, và mẹ anh chắc chắn cũng mỉm cười. Anh còn nói thêm, em nhận là đứa con gái của bố mẹ anh thì tình cha con đó giá trị gấp trăm lần mớ nữ trang em đang cầm trong tay.

Nói cho cùng, tuy những nữ trang này có giá trị thật nhưng riêng tôi, cái trâm vẫn là quà tặng có giá trị nhất. Tôi sẽ nâng niu, gìn giữ nó như bác Thu đã trân quý suốt đời bác. Sau này, nếu tôi có con gái, khi nó lớn lên, tôi sẽ kể lại chuyện tình của bác Lai, và cái trâm sẽ là của hồi môn cho đứa con gái trong ngày vu quy, tiếp nối truyền thống như bác mong muốn. Chiếc kẹp tóc và câu chuyện tình sẽ lưu truyền muôn thuở trong dòng họ nhà tôi. Phải như thế, quý vị ạ!

 Hải Ngữ
Thêm bình luận

Bài vở và hình ảnh xin gởi về This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.