- Đăng ngày 09 Tháng 4 2011
- Lượt xem: 2293
- Chương 14 -
Nhỏ lệ hồi tôn - Họa vô đơn chí
Khắc Chung cứu thoát Huyền Trân tại cửa Thị Nại
Gặp bão dạt vào cửa sông Trà Bồng. Huyền Trân lâm trọng bệnh.
*
1. Đông sang vừa hết tháng mười
2. Vua Chiêm tiếp đón đoàn người viếng tang
3. Khắc Chung dẫn sứ bộ sang
4. Vừa tăng vừa tục, hội đàm cùng nhau
5. Chung rằng: “Vua băng chưa lâu
6. Hồn thiêng quanh quất phải cầu về đây
7. Hoả đàn ngài được chứng tri
8. Linh hồn Vua - Hậu cùng đi về trời
9. Cõi trên gắn bó đời đời
10. Trai đàn xin dựng gần nơi hỏa đàn
11. Dựa theo phong tục Đại Nam
12. Thái Hậu sẽ chít khăn tang tế chồng
13. Kinh cầu phải trên bể Đông
14. Vì tro Tiên Đế1 giữa lòng biển khơi”
15. Chế Chí theo ý chuẩn lời
16. Hôm sau xa giá tiễn người ra đi
17. Đồ Bàn rũ bóng tinh kỳ
18. Đất trời hôn ám cũng vì tiếc thương
19. Người đưa chật khắp nẻo đường
20. Tay cầm sen trắng ngát hương nguyện cầu
21. Đêm qua ruột héo dàu dàu
22. Bên bờ cái chết nỗi đau tan dần
23. Đời người có mấy xác thân
24. Buồn vui rồi cũng một lần tử sinh
25. Trần gian đã hết duyên tình
26. Thì thôi âm cảnh có mình có ta
27. Nàng bồng Thái tử Đa Da
28. Chắp tay hướng vọng quê nhà từ ly
29. Chung rằng: “Còn có mấy khi
30. Xin cho thái tử cùng đi xuống thuyền
31. Chứng minh giây phút linh thiêng
32. Một nhà đoàn tụ phước duyên sẽ dày”
33. Chế Chí nghe nói cau mày
34. Truyền đem Thái tử lại ngay bên mình
*
35. Nàng qùi giữa tiếng cầu kinh
36. Con thuyền siêu độ bập bềnh ra khơi
37. Lệ hai thị nữ tuông rơi
38. Giọng kinh nghe thật bồi hồi xót xa
39. Trời chiều vắng bóng ác tà
40. Biển Đông gợn sóng sương sa mịt mờ
41. Bỗng đâu xảy chuyện bất ngờ
42. Khinh thuyền mấy chiếc sau bờ núi xanh
43. Xông ra bắt cóc thật nhanh
44. Vút về phương Bắc tiếng kinh vẫn đều
45. Chiêm thuyền không thấy đuổi theo
46. Khinh thuyền vẫn lướt sóng vèo như bay
47. Đêm đen bóng tối thật dày
48. Có thuyền buôn lớn đón ngay giữa dòng
49. Khinh thuyền cập vội ngang hông
50. Chuyển đưa tất cả vào trong khoang liền
51. Huyền Trân buồn bã lặng yên
52. Nàng nhìn thấy sự đảo điên quanh mình
53. Chế Chí nhắm mắt làm thinh
54. Chắc hẳn hiểu rõ sự tình xảy ra
55. Nên mới giữ lại Đa Da
56. Ta con Đại Việt thì ta cứ về
57. Nàng nghe thất vọng ê chề
58. Một niềm ray rức làm ê ủ lòng
59. Ta thà lên giàn lửa hồng
60. Để tròn chung thủy với chồng với dân
61. Còn đâu danh tiết Huyền Trân
62. Còn đâu nữa mối tương thân Việt – Chàm
63. Bây giờ mẹ bắc con nam
64. Trời bày tử biệt, người làm sinh ly
65. Ngày nào nuốt lệ vu qui
66. Hy sinh thân gái cũng vì nước non
67. Dâng đời một tấc lòng son
68. Mà nay tan nát có còn gì đâu
69. Tiếng đời mai mỉa ngàn sau
70. Oan khiên ai để gánh sầu cho ta
71. Trong vòng đại sự quốc gia
72. Nữ nhi như hạt mưa sa giữa dòng
73. Nỗi niềm trời đất cảm thông
74. Biển Đông bỗng nổi mưa dông mịt mùng
75. Đoàn thuyền cố sức vẫy vùng
76. Gió to dậy sóng muôn trùng cuốn đi
77. Thật là vô kế khả thi2
78. Mọi người niệm chú Đại Bi3 nguyện cầu
79. Quan Âm thị hiện phép mầu
80. Đoàn thuyền dạt sóng tấp vào cửa sông
81. Vướng trên cồn nhỏ giữa dòng
82. Trà Bồng4 rộng cửa Thái Cần5 nước êm
83. Nơi đây sóng lặng gió yên
84. Nhưng thuyền vỡ nát phải tìm nhà dân
85. Thời may trong đám thuyền nhân
86. Có người trước đã mấy lần qua đây
87. Hiểu rành thủy thổ vùng này
88. Dẫn đoàn tạm trú dưới cây bồ đề

Đền thờ Công Chúa Huyền Trân dưới gốc
cây Bồ Đề 1000 năm tại Diệu Giác Tự - Quảng Ngãi
89. Cải trang thành nhóm dân quê
90. Người lo lương thực kẻ về báo tin
91. Dập dồn bao chuyện hãi kinh
92. Huyền Trân ngã bệnh trong mình sốt cao
93. Lại thêm hậu sản máu đào
94. Họa vô đơn chí7 ập vào Công Nương
95. Ngọc, Dung túc trực bên giường
96. Khắc Chung lo lắng ruột dường lửa nung
97. Nơi đây nguy hiểm trùng trùng
98. Gặp hồi vận bĩ anh hùng bó tay
99. Tên thủy thủ thật khéo thay
100. Tìm quanh quất cũng được thầy lang băm
101. Nhưng mà cá đã động tăm
102. Tin đoàn người lạ âm thầm loan nhanh.
* * *
1Lúc trước khi hỏa thiêu Chế Mân xong tro cốt được đựng trong bình vàng rồi thủy táng ở biển Đông.
2Vô kế khả thi: Không có phương kế nào khả dĩ có thể thi hành.
3Chú Đại Bi, hay Đại Bi Tâm Đà La Ni, là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Đức Quán Thế Âm Bồ Tát). Bài chú này còn có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni… Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh. (BKTT mở)
4Sông Trà Bồng: Là một con sông ở phía bắc tỉnh Quảng Ngãi.
5Cửa Thái Cần (nay là cữa Sa Cần): Là một trong năm cửa biển của tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía đông bắc huyện Bình Sơn, nơi sông Trà Bồng (hay sông Châu Tử) đổ ra biển. Sách xưa gọi cữa Sa Cần là Thái Cần hay Thể Cần. Sông Trà Bồng chạy đến gần cửa biển thì mở rộng lòng, nước rất êm. Giữa lòng sông nổi lên một quả núi nhỏ với nhiều tảng đá lớn chồng chất lên nhau, gọi là hòn Bà, sách Ðại Nam Nhất thống chí gọi là "Ghềnh Thạch Bàn". (BKTT mở). (Ngờ rằng tên Hòn Bà được dân trong vùng đặt cho cồn đá này để tưởng nhớ đến chuyện thuyền Công Chúa Huyền Trân gặp nạn trôi dạt vào đây) .
6Cây Bồ đề này hiện vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt sống cho đến nay và nằm trong khuôn viên của Chùa Sắc Tứ Diệu Giác ở Bắc Quảng Ngãi. Dưới gốc Bồ Đề có miếu thờ Công Chúa Huyền Trân (dân địa phương gọi là Hoàng Hoa Công Chúa) để ghi nhớ chuyến trở về từ Đồ Bàn đã ghé đây tị nạn. Miếu rất linh thiêng và được dân trong vùng thờ phụng hương khói cầu đảo quanh năm, mọi việc đều linh ứng. (Theo phả biên của Sắc Tứ Diệu Giác Tự - Quảng Ngãi).
7Họa vô đơn chí: Tai họa không chỉ đến một lần mà thường xảy ra dồn dập.